Phong danh hiệu cho nghệ sĩ: Chuyện lớn hay nhỏ?
Năm 1984 Nhà nước ta lần đầu tiên phong danh hiệu cho nghệ sĩ. Từ đó đến nay đã trải qua 9 lần phong danh hiệu và lần tới đây vào tháng 12/2021 sẽ là lần thứ 10. Một con số rất đẹp báo hiệu sẽ có thay đổi lớn về số lượng nghệ sĩ được phong. Tuy nhiên xung quanh việc phong danh hiệu cũng còn nhiều ý kiến khác nhau mà đa phần là trái chiều cho thấy một thực trạng cần phải xem xét kỹ lưỡng.
Nhìn lại lịch sử
Việc phong tặng danh hiệu cho nghệ sĩ nước ta xuất phát từ hình mẫu của Liên Xô trước đây. Năm 1936 lần đầu tiên Liên Xô phong Nghệ sĩ Nhân dân cho một số nghệ sĩ của Nhà hát Hàn lâm Nghệ thuật Moskva và Nhà hát Lớn. Tuy không quy định cụ thể trên văn bản nhưng được hiểu mặc nhiên phải qua các nấc thang Nghệ sĩ Công huân và Nghệ sĩ Nhân dân của các nước cộng hòa, cuối cùng mới đến danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô. Nói chung khi đạt đến danh hiệu cao quý này thì người được trao cũng phải ngoài 60 tuổi và hầu như không có ngoại lệ. Các nghệ sĩ được tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô phần lớn đều là những nhân vật xuất chúng, đạt được đỉnh cao thực sự trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật trên toàn lãnh thổ Liên Xô, chứ không thuần túy là những ai làm tốt công tác tuyên truyền tư tưởng. Tính từ mùa thu 1936 cho đến 1991 (năm Liên Xô tan rã) đã có hơn một ngàn người được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô.
Sau khi Liên Xô tan rã, Nhà nước LB Nga nối lại việc phong danh hiệu từ 21/2/1992. Theo đó, danh hiệu NSND LB Nga là sự tiếp nối của NSND Liên Xô. Còn danh hiệu Nghệ sĩ Công huân ở Liên Xô trước đây tương tự với Nghệ sĩ Ưu tú ở ta. Khác nhau là do cách dịch, trong khi ý nghĩa tương đương. Xem như thế thì ngoài việc cống hiến cho sự nghiệp chung, danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân phải mang nặng tầm vóc nghệ thuật của người được phong và chỉ nên giành cho những người hoạt động nghệ thuật biểu diễn mà không thể cho người làm công tác quản lý.
Áp điều này vào việc phong NSND ở Việt Nam thì xem ra không hoàn toàn như vậy. Dường như chúng ta đang đi ngược vì lẽ ra “Chúng ta phải tìm người có công để trao thưởng chứ không phải là người có công báo công để xin thưởng. Cách trao giải thưởng như vậy mang đậm tính xin – cho. Mà đã xin - cho thì sẽ nảy sinh những tiêu cực và làm cho bộ máy mất năng lực” (Tổng Thư ký Hội Lịch sử VN Dương Trung Quốc). Cũng chính vì vậy mà nhiều nghệ sĩ không muốn làm đơn để được xét tặng danh hiệu vì mang tiếng đi xin danh hiệu. “Sự đóng góp của các nghệ sĩ với công chúng là vô tư và sự ghi nhận đó thực chất là công chúng ghi nhận là chính. Khi nghệ sĩ đã đóng góp cho công chúng, cho nhân dân, nếu xứng đáng thì phải được công nhận. Phải có một hội đồng nghệ thuật chuyên ngành để làm công việc theo dõi quá trình hoạt động của các nghệ sĩ. Khi nhận thấy nghệ sĩ cống hiến tốt thì mời từng nghệ sĩ hoặc đề cử họ” (Ca sĩ Trọng Tấn).
Kết quả đáng buồn là rất nhiều nghệ sĩ được phong danh hiệu NSƯT nhưng lại không được công chúng biết đến. Đồng thời, nhiều NSND được phong nhưng chẳng thấy nổi trội gì hơn người chưa được phong, chưa kể còn kém hơn nhiều. Vậy nên nếu nhận được sự đồng thuận từ phía khán giả thì giải thưởng sẽ được nhân giá trị lên rất nhiều. “Với nghệ sĩ, điều tối quan trọng là tạo được dấu ấn cá nhân của mình trong đời sống nghệ thuật và được công chúng nhớ tên, biết mặt, quan tâm, đánh giá tốt. Giải thưởng cần phải làm thế nào để công chúng đồng tình với danh hiệu mà các nghệ sĩ được tặng, thủ tục xét duyệt vẫn cần thông thoáng, mềm dẻo, uyển chuyển, tinh tế hơn, tôn trọng tối đa "cái tôi" của mỗi nghệ sĩ” (NSND Doãn Hoàng Giang, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam).
Những nghệ sĩ nổi tiếng chưa được phong danh hiệu xứng đáng
Nếu cho rằng danh hiệu NSND được phong là chính xác, đúng người nhận, thì giải thích thế nào về trường hợp rất khó giải thích của NSUT nhạc sĩ Phan Huấn (1938) có nhiều năm cống hiến trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, để lại nhiều bản thu đỉnh cao khó quên ngay từ lần thể hiện đầu tiên khi bài hát ra đời như Bộ đội về làng (Lê Yên), Đẹp cánh tay em (Lê Yên), Hành khúc ngày và đêm (Phan Huỳnh Điểu), Đàn T’rưng (Nguyễn Viêm, thơ Huy Cận), Tiếng hát dâng Đảng (Lưu Hữu Phước), Nhớ ơn Hồ Chí Minh (Tô Vũ), Tình ta biển bạc đồng xanh (Hoàng Sông Hương)… Sau khi nghỉ hưu, ông còn đi khắp từ Bắc chí Nam để xây dựng phong trào ca hát cho nhiều cơ quan tham gia hội diễn ngành và giành nhiều giải cao qua việc dàn dựng nhiều tiết mục đơn ca, tốp ca và hợp xướng nổi tiếng của các đồng nghiệp và của chính mình sáng tác. Trong khi em ruột ông đã là NSND mà bề dày cống hiến cũng như tài năng khó có thể so sánh với ông, người nghe cũng không nhớ đã được nghe bài hát nào nghệ sĩ này thể hiện xứng đáng để lại dấu ấn đáng ghi nhớ.

NSƯT Phan Huấn
Công tác trong Đoàn ca nhạc Đài Tiếng Nói Việt Nam có hai nghệ sĩ gạo cội mà tài năng và nhân cách nổi trội, đã từng là đội trưởng đội ca, là NSUT Kim Oanh (1933) và NSUT Tuyết Thanh (1942) cũng chưa được phong NSND. Đây là hai trong những điều bất hợp lý lớn nhất còn tồn tại đến bây giờ sau 9 lần phong danh hiệu suốt 37 năm qua. Hai nghệ sĩ đều có số lượng bản thu thuộc loại nhiều nhất, hay nhất khi thể hiện rất nhiều bài hát ngay từ khi nó vừa ra đời. Trong thời gian công tác tại Đài TNVN, Kim Oanh nhiều lần được các nhạc sĩ nổi tiếng trao tác phẩm vừa viết ráo mực cho bà thể hiện và bà đã biến nó thành nổi tiếng ngay lần đầu tiên thể hiện như: Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân), Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương), Đường chúng ta đi (Huy Du)… Bà còn tham gia lĩnh xướng hàng trăm bài hát khác hiện còn lưu ở Đài TNVN và nổi tiếng với danh hiệu được đồng nghiệp phong tặng là “đa di năng” nên bài nào khó nhằn ít cảm xúc nhất thì “ném” cho Kim Oanh thể hiện thế nào cũng thành hay. Nhờ thế mà có một loạt bài hát hiện nay chúng ta nghe rất thích như Khúc ca từ một cánh đồng (Trần Hữu Pháp), Chào cây lúa mới (Lê Lôi & Bùi Cẩm Hạnh), Cô du kích Đà Nẵng (Thanh Anh), Gửi về Đất Tổ (Trịnh Lại), Gửi anh bộ đội yêu nước Lào (Hồ Bắc), Lời ru theo sóng (Trần Khánh), Người Mèo có chữ rồi (Huyền Tuân), Tiếng hát bên bờ sông Ninh (Lê Lôi & Xuân Miễn), Trên quê hương những người thợ khéo (Hoàng Vân)... Bà còn nổi tiếng với cách nhả chữ tiếng Việt trong ca từ bài hát một cách điệu nghệ bởi bà quan niệm tiếng Việt không có âm nào là âm “tử huyệt” cả mà âm nào cũng đẹp cũng hay.

NSƯT Kim Oanh
Tiếp theo sự nghiệp đội trưởng của Kim Oanh chính là Tuyết Thanh, giọng soprano trong sáng, sang trọng hiếm có suốt bao nhiêu năm qua Đài TNVN chưa có người thứ hai. Tiếng hát của Tuyết Thanh được biết đến từ lâu trên làn sóng phát thanh bởi giọng hát của bà gắn liền với cuộc chiến tranh giải phóng lừng lẫy từ 50 năm trước qua các bài hát cho tới hôm nay vẫn chưa có ai vượt qua: Bài ca Hà Nội (Vũ Thanh), Bến cảng quê hương tôi (Hồ Bắc), Nổi trống lên rừng núi ơi (Hoàng Vân), Miền Nam nhớ mãi ơn Người (Lưu Cầu & Trần Nhật Lam), Việt Bắc nhớ Bác Hồ (Phạm Tuyên), Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc (Thuận Yến), Anh giải phóng quân ơi (Lê Việt Hòa), Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên (Lê Lôi), Tiếng hò trên đất Nghệ An (Tân Huyền), Hát với người thợ xây (Đặng Nhất Mai), Ai đẹp hơn anh người chiến sĩ biên cương (Ngô Quốc Tính), Mùa xuân hạnh phúc và niềm tin (Tô Hải), Như thể mẹ hiền (Nguyễn Xuân Khoát), Nơi anh đứng (Đỗ Bằng & Hữu Thanh), Trăng sáng trên rừng quế (Trọng Loan)… Bà là solist chủ lực của Đoàn ca nhạc Đài TNVN tham gia lĩnh xướng hàng trăm bài hát và hợp xướng trong đó rất nhiều bài là tác phẩm toàn bích đi vào lòng người như Hoa sen Tháp Mười (Trương Quang Lục), Tiếng gọi núi rừng (Nguyễn An), Trên thảo nguyên Mộc Châu (Phạm Tuyên), Bình minh ngày mới (Nguyễn Đức Toàn), Người mẹ và thành phố biển (Hồng Đăng), Gửi tới Lenin (Nguyễn Văn Quỳ)… Bà còn thực hiện một series các bài hát về nông nghiệp đặc sắc mà chưa ca sĩ nào có như Hạt lúa tình người (Tạ Đức), Tiếng hát trên đồng lúa Nam Hà (Xuân Giao), Hương lúa chiêm xuân (Văn Dung), Kỷ niệm một vùng quê lúa (Hồng Đăng), Hẹn mùa mười tấn năm sau (Tô Hải), Cây lúa Hải Phòng mang tình người biên cương (Phong Kỳ)… Trong lịch sử 72 năm của Đoàn ca nhạc Đài TNVN kể từ khi thành lập tháng 05/1949 cho đến nay, nếu giọng nam xuất sắc nhất là NSND Trần Khánh (được truy tặng danh hiệu NSND năm 2007, tức là 19 năm sau khi qua đời, chứ lúc còn sống ông cũng không được phong), thì có thể nói giọng nữ xuất sắc nhất chính là Tuyết Thanh. Với 45 năm công tác tại Đoàn ca nhạc Đài TNVN và 9 năm tại Nhà hát NVKVN, cuộc đời hoạt động nghệ thuật của bà thật là phong phú và dài lâu hiếm có. Việc bà chưa được phong tặng danh hiệu NSND là một trong những điều vô lý lớn của nền văn nghệ nước nhà. Mong rằng bà sẽ không phải chịu cảnh truy tặng NSND như người anh, người đồng nghiệp Trần Khánh của mình.

NSƯT Tuyết Thanh
Trong quá trình đi tìm tài liệu cho bài viết này, hai tháng trước tôi có hỏi một số người có trách nhiệm của Nhà hát CMNVN về việc phong danh hiệu NSND đối với Bích Liên (1944), giọng soprano thép từ những năm kháng chiến chống Mỹ, hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu NSND. Câu trả lời mà tôi nhận được là Bích Liên cứ gửi hồ sơ như mọi người khác thôi, hơn nữa không biết số điện thoại của Bích Liên vì hình như chị ẩn dật ở một nơi nào đó trong TP HCM rộng lớn, không ai liên lạc được. Thật là tiếc vì giọng hát không thể nào quên ấy cao vút, có chất thép khi diễn tả những bài hát về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trước đây, gắn liền với những bài hát đi cùng năm tháng ngay từ khi lần đầu tiên thể hiện như: Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Biết ơn chị Võ Thị Sáu (Nguyễn Đức Toàn), Chào anh giải phóng quân chào mùa xuân đại thắng (Hoàng Vân), Cô gái mở đường (Xuân Giao), Đường tôi đi dài theo đất nước (Vũ Trọng Hối), Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương (Nguyễn Đức Toàn), Nổi lửa lên em (Huy Du), Tên lửa ta đánh rất hay (Huy Thục), Người là niềm tin tất thắng (Chu Minh), Hà Nội trên tầm cao chiến thắng (Tân Huyền), Tự nguyện (Trương Quốc Khánh), Mùa trái chín (Lưu Cầu), Cô gái ngành y (Lưu Cầu) … Khi nghe lại những bài Bích Liên đã hát trong những năm kháng chiến ta bỗng thấy như hiện về không khí hừng hực của cả nước những năm khói lửa ấy. Chị chính là một trong những nghệ sĩ bằng tài năng của mình đã góp phần ký họa lịch sử những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước bằng âm thanh. Hòa bình lập lại, chị tiếp tục ghi âm nhiều bài hát trong công cuộc dựng xây đất nước vẫn với tầm nghệ thuật rất cao như Cá lội đồng xanh (Vũ Thanh), Em là thợ quét vôi (Đỗ Nhuận), Nghe tiếng còi vào ca bên anh (Lê Tiến Chức), Khi đàn chim bay đi (Cầm Phong), Mùa xuân trên thành phố dệt (Trần Chung), Mặt trời lên chào anh (Trọng Loan), Về đây với đường tàu (Lưu Cầu), Cô du kích và tên bành trướng què (Vũ Trọng Hối)… Đặc biệt chị song ca với Kiều Hưng đã tạo nên một trong những cặp song ca huyền thoại mà kết quả là những bản thu có một không hai như: Tình ca Tây Bắc (Bùi Đức Hạnh & Cầm Giang), Nhịp bước đôi ta (Ngô Hoàng Thi & Hoàng Anh Thơ), Đường vùng chiêm (Hoàng Hiệp), Gió lộng đất rừng (Thái Cơ), Tuổi trẻ trên đồng lúa (Đức Minh), Cả cuộc đời về ta (Lưu Hữu Phước)… Có thể nói việc NSUT Bích Liên chưa được phong NSND cũng là một trong những điều vô lý nhất khó hiểu nhất của nền văn nghệ nước nhà.

NSƯT Bích Liên
Tiếp theo, phải nhắc tới hai nghệ sĩ lớn của quân đội là Dương Minh Đức (1949) và Bích Việt (1954). Hai đại tá kiêm nghệ sĩ vừa làm nhiệm vụ biểu diễn phục vụ chiến sĩ và đông đảo khán thính giả cả nước, vừa thu âm ở Đài TNVN lại vừa làm công tác giảng dạy, đào tạo thanh nhạc tại Trường Đại học VHNT Quân đội. Người nọ tiếp nối người kia, sau khi Dương Minh Đức nhiều năm làm trưởng khoa thanh nhạc thì tiếp theo chính là Bích Việt. Cả Bích Việt và Dương Minh Đức đều có giọng hát sáng đẹp và mẫu mực cho đến nay vẫn chưa có người thay thế. Ngay từ thời trẻ, Dương Minh Đức đã đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc quốc tế. Anh nổi tiếng với những bài hát như: Mùa xuân cho em (Văn Dung), Sa Pa thành phố trong sương (Vĩnh Cát), Tình ca lính đảo (An Thuyên), Hát về tổ quốc tôi (Hữu Xuân), Rừng chiều (Vũ Thanh), Chiều trên bến cảng (Nguyễn Đức Toàn)… Trong nhóm “Ngũ Lão” được thành lập tự nguyện với 5 nghệ sĩ thân thiết nhau là Quang Thọ (1948), Doãn Tần (1947), Dương Minh Đức (1949), Hoàng Chè (sinh 1948) và Quang Huy (1949) thì 4 người đã là NSND, chỉ còn lại mỗi Dương Minh Đức là vẫn còn NSUT. Trong khi xét về tài năng và cống hiến, anh chẳng hề kém cạnh bạn bè trong “Ngũ Lão”, thậm chí về sức truyền cảm của giọng tenor bay thì có lẽ anh còn xứng đáng ở vị trí đứng đầu.

NSƯT Dương Minh Đức
Đồng đội của Dương Minh Đức, đại tá thạc sĩ NSUT Bích Việt cũng là một nghệ sĩ nổi tiếng từ lâu trong binh chủng tăng thiết giáp và toàn quân. Nhưng phải tới cuộc chiến tranh biên giới nổ ra vào 1979 thì tên tuổi của chị mới thực sự được biết tới trong cả nước và gắn liền với những bài ca hết sức xúc động làm lay động tâm can hàng triệu người Việt. Sau đó chị cũng để lại dấu ấn không phai mờ qua các bài hát giàu cảm xúc trong công cuộc dựng xây đất nước. Giọng hát của chị được công chúng yêu mến với những bài hát gắn liền tên tuổi chị như: Chiếc ba lô và bài ca tình nguyện (Hoàng Tạo), Đất nước bên bờ sóng (Thái Văn Hóa), Rừng xanh vang tiếng Ta-lư (Huy Thục), Cô gái Pa Kô (Huy Thục), Cánh sóng vẫn theo anh (Thế Song), Câu Sli mùa xuân xứ Lạng (Phạm Tịnh), Hương hồi xứ Lạng (Ngô Quốc Tính), Những bông hoa trong vườn Bác (Văn Dung), Hát dưới nhà của Bác (Nguyễn Trọng Tạo), Hàm Rồng mây bay (An Thuyên), Trên bến Giang Đình (An Thuyên), Tình ca của người trồng cỏ (Nguyễn Trọng Tạo), Trở về bản cũ (Lê Lôi), Trăng ơi đừng sáng (dân ca Ucraina)… Bích Việt cũng như Dương Minh Đức thuộc số ít các giảng viên thanh nhạc hàng đầu trong cả nước có sự nghiệp biểu diễn lẫy lừng và chắc chắn thuộc về số ít những giọng hát sẽ còn mãi với thời gian bởi hiện vẫn chưa xuất hiện giọng hát mới nào thay thế được. Việc hai nghệ sĩ này chưa được phong NSND là dấu hỏi lớn rất khó giải thích một cách hợp lý theo lẽ thông thường.

NSƯT Bích Việt
Nghệ sĩ ưu tú Quang Hưng (1934) có cuộc đời hoạt động cách mạng và nghệ thuật phong phú. Ông thuộc lớp chiến sĩ Điện Biên, trải qua kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được đào tạo âm nhạc bài bản tại Nhạc viện Traikovsky. Ông lần lượt tham gia đoàn Văn công TCCT, đoàn Văn công Giải phóng miền Nam và cuối cùng là Nhà hát NVKVN. Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật phong phú của mình, ông đã hát trên chiến hào, biểu diễn quốc tế, thu thanh tại Đài TNVN, dịch các bài hát tiếng Trung, Nga và Pháp ra tiếng Việt và tự biểu diễn rất tài tình. Các bài hát gắn với tên tuổi ông là: Trường Chinh ca (Lương Ngọc Trác), Giải phóng quân ta ra đi (Văn Dung & Triều Dâng), Ta là chiến sĩ giải phóng quân (Văn Lưu & Triều Dâng), Anh quân bưu vui tính (Đàm Thanh), Bài ca Hồ Chí Minh (Ewan Maccoll), Bước chân trên dải Trường Sơn (Vũ Trọng Hối), Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi (Huy Du), Đội máy cày quê ta (Văn Chung), Đời thủy thủ (Nguyễn Văn Tý), Khi quả bóng lăn tròn (Phan Thanh Nam), Phố tôi có một anh chàng (Hoàng Hiệp), Tôi là Lê Anh Nuôi (Đàm Thanh), Tôi thích thể thao (Đỗ Nhuận)… Việc một nghệ sĩ hết sức tài năng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí nhiều thế hệ người nghe dọc theo chiều dài cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng sau chiến tranh như Quang Hưng mà vẫn chưa được phong NSND là một bất ngờ lớn cần phải được sửa chữa sớm chừng nào tốt chừng nấy.

NSUT Quang Hưng
NSUT Quang Phác (1941) cũng là một trường hợp xứng đáng với danh hiệu NSND nhưng luôn bị quên lãng. Được đào tạo bài bản từ Trường Âm nhạc Việt Nam và Nhạc viện Sofia (Bungari), ông có 24 năm cống hiến cho sự nghiệp biểu diễn và đào tạo tại Nhạc viện Hà Nội. Nhiều bài hát ông thể hiện để lại tiếng vang, trong đó có những bài cho đến nay vẫn chưa có người vượt qua như Hò biển (Nguyễn Cường), Hồ trên núi (Phó Đức Phương), Bài ca trên bãi sông Hồng (Huy Du), Cô gái Sầm Nưa (Trần Tiến), Đảng là cuộc sống của tôi (Nguyễn Đức Toàn), Hồ Chí Minh – Người là muôn ánh sao (Xuân Oanh), Ngọn đèn đứng gác (Hoàng Hiệp & Chính Hữu), Tiếng sáo anh địa chất (Lê Ngọc Nam), Gửi em cô gái trồng cam (Mai Sao)… Sự nghiệp đào tạo của ông cũng có những thành công đáng mơ ước với một học trò được phong NSUT là Thanh Bảng, hai người được phong NSND là Hoàng Chè và Phan Muôn. Ông còn nhiều học trò từ CHDCND Lào và Vương quốc Campuchia, trong đó có người nắm cương vị quan trọng trong Nhà nước bạn. Cuộc sống tuy chưa như ý nhưng tâm hồn ông sáng trong không một chút gợn, là nguồn cảm hứng cho một cuốn chân dung dày dặn của một tác giả cũng là người trong nghề.

NSUT Quang Phác
Nghệ sĩ ưu tú Thúy Hà (1949) là người tham gia hoạt động nghệ thuật từ rất sớm. 13 tuổi chị đã vào đoàn Nghệ thuật Quân khu Việt Bắc rồi đi chiến trường biểu diễn phục vụ bộ đội đánh giặc trong những năm kháng chiến đánh Mỹ. Tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, chị về Nhà hát CMNVN rồi cuối cùng là Nhà hát NVKVN hoạt động cho đến khi nghỉ hưu. Với giọng nữ cao trong sáng, phong cách sân khấu linh hoạt và lôi cuốn, chị đã đi vào tâm trí người nghe cả nước qua những bài hát: Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên (Lê Lôi), Bến cảng quê hương tôi (Hồ Bắc), Cây lúa Hàm Rồng (Đôn Truyền), Chào anh giải phóng quân chào mùa xuân đại thắng (Hoàng Vân), Mùa hoa đón bác (Thái Cơ), Gửi má Bình Định (Trần Chung), Như hoa hướng dương (Tô Vũ), Tiếng ca hạnh phúc (Huy Thục), Suối Lê Nin (Phạm Tuyên), Tiếng đàn người chiến sĩ lương y (Thái Cơ)… Chị còn song ca với các nam ca sĩ khác nhau để lại những bài hát đỉnh cao như song ca với Mạnh Hà trong Từ một ngã tư đường phố (Phạm Tuyên) và Trên công trường rộn tiếng ca (Ngô Quốc Tính), với Trung Kiên trong Đảng là mùa xuân là tình yêu (Ca Hoàng), với Quang Phác trong Đường bốn mùa xuân (Đỗ Nhuận), với Kiều Hưng trong Trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh (Dân Huyền). Đặc biệt trong thời gian công tác tại Nhà hát NVKVN, chị đã tham gia đóng vai chính trong vở Opera Cô Sao (Đỗ Nhuận), trong đó có Aria Cô Sao được chị thể hiện tuyệt vời, đã tạo nên một sự kiện văn nghệ lớn lúc bấy giờ. Với những đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà, Thúy Hà xứng đáng với danh hiệu NSND hơn là NSUT như hiện nay.

NSUT Thúy Hà
Trong Đoàn ca nhạc Đài TNVN vẫn còn những trường hợp chưa được phong danh hiệu một cách hết sức khó hiểu. Đó là ca sĩ Tuyết Nhung (1944), người có số bản thu đơn ca, song ca, tham gia lĩnh xướng trong tốp ca và hợp xướng với số lượng thuộc vào loại nhiều nhất trong kho băng âm thanh của Đài TNVN. Chị biểu diễn, thu thanh với số lượng lớn suốt mấy chục năm qua nhưng chưa được phong danh hiệu NSUT. Đây là điều chưa thỏa đáng.
Nghệ sĩ Ngọc Tân (1948) từng công tác tại Đoàn ca nhạc Đài TNVN và Đoàn CMN Bông Sen TPHCM là một giọng hát tài năng từng giành các giải thưởng trong nước và quốc tế. Khi còn ở Đài TNVN, anh thường hát trong các tốp ca và hợp ca với vai trò lĩnh xướng. Rời miền Bắc vào miền Nam, anh tham gia đoàn CMN Bông Sen. Chính thời gian này tài năng của anh đã nở rộ với hàng loạt ca khúc để đời và hàng loạt chuyến công diễn để lại ấn tượng khó quên cho người nghe. Anh vừa trực tiếp đơn ca trên sân khấu với cây ghita hoặc tự đệm piano và hát rất ấn tượng, vừa đóng vai trò ông bầu tập hợp và điều hành anh em nghệ sĩ cùng biểu diễn khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ngọc Tân để lại ấn tượng sâu sắc với khán thính giả qua những ca khúc trữ tình tự sự sâu lắng: Tình ca người thợ mỏ (Hoàng Vân), Chiều trên bến cảng (Nguyễn Đức Toàn), Biển đêm (Lê Vinh), Nhớ thành phố hoa đào (Phan Long), Hà Nội và tôi (Lê Vinh), Mùa thu muộn (Phú Quang), Nỗi nhớ mùa đông (Phú Quang), Biển nỗi nhớ và em (Phú Quang & Hữu Thỉnh), Đi trong hương tràm (Thuận Yến), Em sẽ đến (Lương Hải & Nguyễn Lam Điền), Em ơi Hà Nội phố (Phú Quang), Thương lắm tóc dài ơi (Phú Quang)… Ngọc Tân một thời là thần tượng của giới trẻ cả nước, nhất là các nam thanh niên thời những năm 80-90 của thế kỷ trước bởi anh hát hay, vóc dáng đẹp với mái tóc bồng bềnh lãng tử. Thật đáng tiếc khi đang ngự trên đỉnh cao, giữa lúc đang sung sức thì anh đột ngột ra đi ở tuổi 56 vẫn còn trẻ và giàu sức sáng tạo. Sự ra đi của Ngọc Tân đã để lại khoảng trống mà gần hai thập kỷ qua chưa có ai lấp đầy. Giờ đây khi nhìn lại cuộc đời truân chuyên đầy sóng gió của anh, chúng ta không khỏi thương cảm cho một nghệ sĩ tài năng không gặp may mắn trong đời. Có lẽ để tri ân với những cống hiến của anh cho âm nhạc nên truy tặng anh danh hiệu NSUT. Đó là điều rất nên làm và cũng rất hợp tình hợp lý.

NSƯT Kiều Hưng
Người cuối cùng tôi muốn nhắc tới ở đây là nghệ sĩ Kiều Hưng (1937). Ở độ tuổi 85, ông là một trong vài người còn sót lại trong số các nam nghệ sĩ gạo cội của nền thanh nhạc nước nhà. Chất giọng tenor trong sáng, vừa ấm áp vừa bay bổng mang âm hưởng dân ca, ông có sở trường là những bài dân ca và các ca khúc trữ tình. Với nền tảng kỹ thuật thanh nhạc bài bản từ nhạc viện nước ngoài, ông còn thể hiện tốt các ca khúc thính phòng trong và ngoài nước. Ông tham gia biểu diễn trong quân số Đoàn Ca múa Trung ương rồi Đoàn Ca nhạc Dân tộc Trung ương (nay là Nhà hát CMNVN) khắp các chiến trường trong những năm chiến tranh chống Mỹ, làm chuyên gia cho nước bạn Lào và giảng dạy tại Nhạc viện Hà Nội. Trong số các học trò có 3 người là NSUT (Tiến Hỷ, Đức Chính, Mạnh Hưng) và một NSND (Trọng Nghĩa). Một thành tựu lớn trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật là ông còn có số lượng bài hát thu thanh tại Đài TNVN thuộc loại lớn nhất mà hầu hết trong số đó thuộc loại đỉnh cao cho đến nay vẫn chưa có người vượt qua. Ông là nghệ sĩ được người hâm mộ, bạn bè và đồng nghiệp vô cùng yêu mến ngay cả khi nhiều năm không xuất hiện trên sân khấu. Được phong NSUT đợt đầu tiên năm 1984, hồ sơ đề nghị phong NSND của ông được lãnh đạo Nhà hát CMNVN chuẩn y từ 1991 nhưng đến nay ông vẫn chưa được phong danh hiệu cao quý. Tuy nhiên, hai tháng trước đây gia đình ông có trao đổi với người viết bài rằng hiện nghệ sĩ đã cao tuổi, muốn nghỉ ngơi tĩnh dưỡng hoàn toàn, nên thực sự không còn nguyện vọng gì về việc này nữa.
Trên đây chỉ là những trường hợp quá bất hợp lý trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc. Trong các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn khác chắc chắn cũng có không ít trường hợp bất hợp lý tương tự.
Nghị định 40 của Chính phủ và hướng giải quyết
Ngày 30/3/2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2021/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định số 89/2014/NĐ-CP ngày 29/9/2014 của chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân và Nghệ sĩ Ưu tú. Trong nghị định mới này đáng chú ý là Điều 8 về Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân khi có thời gian hoạt động nghệ thuật từ 20 năm trở lên, đã được phong danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú và đạt được một trong các tiêu chí sau:
a) Có ít nhất 02 giải Vàng quốc gia (trong đó có 01 giải Vàng là của cá nhân).
b) Có ít nhất 03 giải Vàng quốc gia (nếu không có 01 giải Vàng là của cá nhân).
c) Có cống hiến nổi trội, có tài năng nghệ thuật xuất sắc, thiếu giải thưởng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này nhưng được Hội đồng các cấp thảo luận, đánh giá là trường hợp đặc biệt, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong trường hợp cụ thể sau:
- Nghệ sĩ là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi, có nhiều cống hiến, đóng góp trong lĩnh vực nghệ thuật;
- Nghệ sĩ tích cực tham gia nhiều hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị lớn của địa phương và đất nước;
- Nghệ sĩ là giảng viên các trường đào tạo văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, đào tạo nhiều thế hệ sinh viên tham gia đạt các giải thưởng cao tại các cuộc thi nghệ thuật chuyên nghiệp quốc tế”.
Với hướng dẫn mới như thế này thì các nghệ sĩ nêu trên hoàn toàn đủ tiêu chuẩn phong danh hiệu NSND. Tuy nhiên dù có đổi mới thì vẫn cần một sự đổi mới hơn nữa để sao cho danh hiệu NSND được trao đúng người được nhân dân biết tên biết mặt, có cống hiến thực sự, tài năng thực sự. Bởi việc mở rộng đối tượng nhưng phải đưa tiêu chí rõ hơn nữa. "Từ NSUT nâng lên NSND không thể chỉ dựa vào quy định có 2 huy chương vàng bởi số huy chương này chủ yếu nhờ vào đi hội diễn, nơi chỉ có giám khảo và một số ít khán giả. Đấy là chưa kể có người cố chạy huy chương để lấy danh hiệu, làm cho danh hiệu ấy đang bị giảm giá trị, nghệ sĩ bớt uy tín trong mắt khán giả. Đây là đợt xét tặng thứ 10 rồi, nếu không khéo số lượng tăng mà chất lượng giảm, giá trị bị đảo lộn” (NSND Lê Tiến Thọ, nguyên Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam).
Nền văn nghệ nói chung và âm nhạc nói riêng của ta là vì con người, không có mục đích vu vơ. Vậy thì những nhà quản lý văn hoá văn nghệ hãy trước hết vì chính những người sáng tạo, hãy coi trọng các nghệ sĩ, hãy nhân văn với chính những người làm công tác nhân văn đã mang nghệ thuật phục vụ cách mạng. Không nên để các tên tuổi lớn phải đi xin xỏ. Họ đã mang tuổi xuân và nghệ thuật đỉnh cao của minh đóng góp vào sự nghiệp chung mà không cần một bản cam kết đền đáp nào. Cho nên việc công bằng với những đóng góp của các nghệ sĩ suy cho cùng cũng chỉ là việc làm tất nhiên, bình thường, có trước có sau của những nhà quản lý chuyên nghiệp.
Thế là việc phong danh hiệu cho nghệ sĩ tưởng là nhỏ mà thực ra không nhỏ. Đó chính là sự thể hiện rõ ràng nhất đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng một cách cụ thể. Nếu làm không khéo rất dễ phản tác dụng. Trong khi phê bình những người làm công tác văn nghệ ngày nay, tạm gọi là các nghệ sĩ, không chịu dùi mài kinh sử và trau dồi đạo đức tác phong để sáng tạo nên những giá trị tinh thần thực chất cho công chúng thì những người lãnh đạo nền văn nghệ nước nhà chưa bao giờ định nghĩa được thế nào là nghệ sĩ, thậm chí những danh hiệu nghệ sĩ cao quý là NSUT và NSND cũng còn trao nhầm địa chỉ hoặc bỏ sót một cách hết sức đáng trách. Chúng ta xây dựng đất nước từ chế độ phong kiến nửa thuộc địa, đó là một công việc vĩ đại đòi hỏi phải làm tốt nhiều việc nhưng trên thực tế chưa bao giờ làm được việc gì cho rốt ráo, vuông tròn. Thôi thì lần này hãy cố gắng làm việc cho hết cái tâm và cái tầm cần phải có. Đối với các nghệ sĩ cao tuổi có thành tích, cống hiến và tài năng nghệ thuật đã được thử thách qua thời gian như đã nói ở trên thì tốt nhất là nên phong ngay không phải bước qua từng bậc thang nữa. Phấn đấu đi đến cách làm “phát hiện và phong tặng”, kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, không đúng với bản chất của nền văn hóa chúng ta đang hướng tới. Không có văn hóa nào xin xỏ danh hiệu cả. Chậm trễ hay sai lầm bây giờ là không thể chấp nhận được và chắc chắn sau này sẽ phải sửa chữa. Nhưng điều quan trọng là niềm tin của nhân dân chắc chắn sẽ không còn. Cho nên phải làm tốt việc này. Đó là mục đích duy nhất và cũng là con đường duy nhất.
Tháng Tám, mùa Thu 2021
Người Nghe Nhạc