Xuất xứ một bài hát về mùa Xuân Tây Bắc

(Sàn Hạn Khuống của Dân Tộc Thái) 

Mùa xuân Tây Bắc có một vẻ đẹp rất riêng, đại ngàn thay áo mới, những con suối trầm tư bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, hoa đào, hoa ban dịu dàng toả hương ngan ngát, những đàn bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, trong vòm xanh tiếng chim rừng trong trẻo gọi bình minh hồng tươi thức dậy và sắc hồng trên má đào sơn nữ gọi nắng xuân về… Trong lòng mỗi người chợt ngân lên giai điệu trong trẻo, tươi vui, mượt mà đằm thắm của mùa xuân: “Inh lả ơi, xao nọong ơi! Khắp núi rừng Tây Bắc sáng ngời, mùa xuân tới ngàn hoa hé cười…”.

Inh lả ơi tôi nghe câu hát - (Nguyễn Cường) - Tốp ca nữ Đài TNVN - Thúy Mỵ

Mỗi khi lời ca trong sáng tươi vui ấy cất lên, mỗi người như lại được nồng say trong vòng xòe mê đắm, hoà trong những bước đi hôi hổi của mùa xuân. Ca từ và tiết tấu đơn giản, mượt mà, thấm đượm hồn dân ca Thái làm cho mỗi người như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời, con người cùng vạn vật. Bài hát được nhiều ca sỹ, nghệ sỹ trình diễn rất thành công ở trong và ngoài nước, tạo ấn tượng khó phai cho người nghe. Ngoài phần lời hát mới, xuất hiện vào chiến dịch Tây Bắc như: “Khắp núi rừng Tây bắc sáng ngời…”, còn: “Inh lả”“xao noọng” có nghĩa như thế nào mà làm say đắm bao thế hệ người Thái đến như vậy?

“Hạn khuống”

Ngày xưa con gái Thái khi bước vào tuổi thiếu nữ cũng là lúc được bước lên “hạn khuống”, (với người Thái Tây Bắc từ mùa thu cho đến đầu xuân là mùa của sinh hoạt “hạn khuống”, còn gọi là sàn hoa hạn khuống, sân chơi dành riêng cho giới trẻ chưa lập gia đình)- một hình thức sân khấu diễn xướng sơ khai ngoài trời. Ở đó, hồn nhiên giữa đất trời họ được tự do giao tiếp, được tâm sự, hát đối đáp giao duyên. Và cũng ở đó họ khao khát và nảy nở tình yêu say đắm đến cháy bỏng. Với người Thái sức mạnh của lời ca tiếng hát vô cùng  to lớn:
“Tiếng hát vào núi đá hoá thành vôi trắng.
Hát vào suối cạn, dâng thành sông Đà,
Hát cùng chài gấp nên tấm lụa.
Hát cùng rau non, lớn vụt thành sen.
Hát cùng đầu bạc, xanh lại thời tuổi trẻ” – (dân ca Thái).

Các cô gái coi “Hạn khuống” là nơi thân thuộc và thiêng liêng nhất của đời thiếu nữ. Ở đó những thiếu nữ được tự do bày tỏ tình yêu trong sáng của mình, được lắng nghe những lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ… về đạo lý làm người, được dạy cách quay xa, kéo sợi, dệt vải, thêu thùa và những ửng xử cần thiết cho đường đời. Bởi nên, khi đi lấy chồng họ rất lưu luyến bịn dịn. Họ không cầm lòng được vì cho rằng “Thóc đã đổ bồ chẳng đem quay lại gặt, gái đã lấy chồng không thể quay lại đùa vui” (Xống chụ xon xao), “Thời con gái quá ngắn ngủi so với cả cuộc đời” (Tản chụ xống xương). Khi đi lấy chồng, họ đều có những lời “giã từ hạn khuống”, dặn các em gái trẻ đừng để “sàn hoa hiu quạnh”, tắt ngọn lửa và vắng bóng các chàng trai...

(Xòe Thái)

Trên sàn hoa hạn khuống, các cô gái thường chia thành hai lớp. Những cô lớn tuổi, đã chơi hạn khuống nhiều năm gọi là “xao ưởi” - nghĩa là lớp chị. Các cô gái này thường ngồi ở vị trí chính giữa sàn hoa, gọi là: “Xao tổn khuống” – tức là chủ hạn khuống, bên: “Lắc xáy cốc”- cây gốc, các “Xao tổn khuống”, bằng kinh nghiệm hát đối đáp nhiều năm của mình sẽ “gỡ rối” cho các “xao noọng”, trước tài ứng đối của các chàng trai.

Còn các cô gái mới lớn bắt đầu làm quen với hạn khuống thì gọi là “xao noọng” nghĩa là lớp đàn em thường ngồi ở bốn góc sàn, nơi có thang cho các chàng trai lên khi hát đối đáp thắng các cô gái, bên các: “Lắc xáy”- chủ ở các góc. Và lớp đàn chị gọi lớp em một cách âu yếm là “inh lả” có nghĩa là út thân thương.

Cho nên, lời hát “Inh lả ơi, xao noọng ơi” chính là tiếng lòng tâm tình của các cô gái lớn tuổi sắp đi lấy chồng với lớp cô gái trẻ mới bước vào đời. Các “xao ưởi” dặn dò các “xao nọong”: “... Méng căm ởn thuông bó phí phựa. Bửa bin khái hai pú dí duội. Chứa căn má xum xao ơi. Chứa căn ỉn au đới bók ban. Tản au đới xao báo nhăng nọi. Inh lả ơi, xao noọng ơi”. (Nghĩa là: Ve sầu vờn bông hoa sắc thắm. Bướm bay lượn quanh núi dập dờn. Cùng đến đây, ơi các em gái. Cùng nhau chơi hết đời hoa ban. Chơi cho hết thời con gái trẻ. Inh lả ơi, xao noọng ơi).

Lời dặn dò sao mà trìu mến, dịu hiền đến thế. Các chị sắp đi lấy chồng, sắp phải giã biệt cái thời khắc hồn nhiên và đẹp nhất của cuộc đời, để làm vợ, làm mẹ, thủy chung hiếu thảo như cái lẽ tự nhiên  tự bao đời, dặn lại các em hãy vui chơi lành mạnh cho thoả thích, chơi cho hết mình kẻo rồi hối tiếc. Và đặc biệt, không quên nghĩa vụ lao động của mình:
“Muốn chơi hãy chơi khi mùa ban nở
Muốn vui hãy vui khi mùa ban chưa tàn
Hoa héo rũ rụng xuống hết mùa.
Ta chia tay nhau về làm ruộng.
Ánh mắt liếc vào ruộng mạ.
Cho bông lúa trĩu vàng.
Hẹn mùa xuân sau khi mùa ban nở”.

“Inh lả ơi, xao nọong ơi” đã trở thành bài ca đi cùng năm tháng, một giai điệu đằm thắm đã đồng hành với bao nhiêu nhịp đập của con tim bao nhiêu thế hệ và trở thành tài sản tinh thần chung của tất cả những ai đã được thưởng thức bài dân ca này. “Inh lả ơi, xao nọong ơi” thiết tha trìu mến, tự nhiên như hơi thở của mùa xuân, của đất trời Tây Bắc, tự đáy lòng các cô gái trưởng thành dặn dò các cô gái mới lớn, chân tình, mộc mạc và tự nhiên nhưng ẩn chứa khát vọng cháy bỏng về tự do hôn nhân, tình yêu trắng trong chung thủy. Từ bao đời rồi vẫn tiếp nối, vẫn ngân lên giữa đất trời như tuần hoàn của vũ trụ, mùa tiếp mùa, cuộc sống sinh sôi bất tận.

  Trần Vân Hạc (sưu tầm)

Bình luận (0)