Có thể nói, trong suốt tháng 4, tháng 5 và tháng 6 năm 2019, những chương trình nghệ thuật kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019) đã diễn ra vô cùng sôi nổi, hoành tráng, trang trọng và rực rỡ sắc màu trên khắp các tỉnh thành ở rất nhiều sân khấu, nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau, trong đó có hàng chục chương trình ca múa nhạc, sử thi nghệ thuật, phim phóng sự, trả lời phỏng vấn, được phát sóng trên các kênh truyền hình lớn như VTV, TTXVN, QPVN, Truyền hình Quốc Hội, Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, Truyền hình Hà Nội... Điều đó đã chứng tỏ tầm quan trọng đặc biệt của tuyến đường huyền thoại mang tên Bác Hồ, đem đến niềm tự hào, niềm vui nao nức, trước hết là cho hơn ba mươi mốt vạn hội viên Hội Truyền thống Trường Sơn trên khắp đất nước Việt Nam. Xúc động biết bao khi ta được thấy lại hình ảnh thời thanh xuân tươi đẹp “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (thơ Tố Hữu) của chính mình trên màn ảnh và trên sân khấu. Nhưng, bên cạnh niềm vui và tự hào ấy, vẫn còn đó những nỗi buồn, vì thấy khá nhiều điều lạc lõng, vô lý trên sân khấu và trên màn ảnh khi tái hiện con đường huyền thoại cùng với những con người làm nên con đường ấy.. Trước hết, cần biết đường Trường Sơn bắt đầu từ tháng 5/1959 bằng giai đoạn gùi thồ. Gùi bằng đôi vai rồi tiến tới thồ bằng xe đạp. Bài hát tiêu biểu phản ảnh giai đoạn này chính là “Bước chân trên dải Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối) với lời ca như vắt từ gan ruột những chiến sĩ Trường Sơn thủa ấy: “Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình”. (Rất tiếc đã không có một bài hát nào viết về các đoàn xe đạp thồ xuyên Trường Sơn). Tiếp đó, từ 1964, là giai đoạn mở đường để vận chuyển bằng ô tô, mạng lưới đường được đối phương gọi là “trận đồ bát quái” xuyên từ biên giới Quảng Bình sang nước bạn Lào rồi chạy dọc phía Tây Trường Sơn, với nhiều bài hát nổi tiếng ca ngợi các binh chủng hợp thành trên tuyến đường này. Đó là những bài hát “Cô gái mở đường” (Xuân Giao), “Đường Trường Sơn xe anh qua” (Văn Dung), “Em ở nơi đâu” (Phan Nhân), “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây” (Hoàng hiệp - Phạm Tiến Duật), “Lá đỏ” (Hoàng Hiệp - Nguyễn Đình Thi), “Xe ta đi trong đêm Trường Sơn” (Tân Huyền)… Song song với tuyến đường vận chuyển bằng ô tô, vẫn có tuyến đường hành quân bộ gọi là đường Giao liên, đưa dẫn hàng triệu chiến sĩ từ hậu phương miền Bắc vào các chiến trường miền Nam, đón hàng vạn cán bộ, thương bệnh binh từ chiến trường ra miền Bắc, là nguồn cảm hứng tạo nên các nhạc phẩm tuyệt vời như “Bài ca bên cánh võng” (Nguyên Nhung), “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” (Trần Chung - Nguyễn Trung Thu), Bài ca Trường Sơn (Trần Chung - Gia Dũng), “Đường tôi đi dài theo đất nước” (Vũ Trọng Hối), “Nổi lửa lên em” (Huy Du - Giang Lam), “Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn” (Hoàng Hà), “Đưa anh đi hái măng rừng” (Hoàng Tạo)... Đó cũng là thời kỳ đạn bom ác liệt nhất, cùng với điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên và núi rừng, đã cướp đi sinh mạng hàng vạn chiến sĩ trên tuyến đường trải dọc xuyên ngang như một mạng lưới khổng lồ, mà đến khoảng 90% là ở phía tây Trường Sơn (nước bạn Lào). Cùng với tuyến đường Trường Sơn, các quốc lộ, tỉnh lộ thuộc Khu 4 Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cũng trở thành “tuyến lửa” vì máy bay Mỹ và pháo từ tàu chiến Mỹ ngoài biển bắn phá ngăn chặn ác liệt ngày đêm. Nhưng với khẩu hiệu “Xe chưa qua, nhà không tiếc” , quân và dân Khu 4 đã quên mình vì miền Nam ruột thịt, giữ thông đường để các chuyến xe băng qua, đưa hàng tới những “đầu mối” của tuyến đường Trường Sơn. Các bài hát “Vui mở đường” (Đỗ Nhuận), “Chào em cô gái Lam Hồng” (Ánh Dương), “Bài hát của người lái xe” (Nguyễn Đức Toàn), “Tôi người lái xe” (An Chung), “Người con gái sông La” (Doãn Nho - Phương Thúy), “Đường chờ xe, không để xe chờ đường” (Trần Quý)… ra đời ở khu vực này. Đồng thời, còn có những bài hát viết về các dân tộc thiểu số anh em ở sườn phía đông Trường Sơn từ Quảng Trị đến Tây Nguyên, tham gia kháng chiến chống Mỹ cùng các chiến sĩ quân giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời trong thời kỳ này như “Bài ca đường Chín chiến thắng” (Văn Dung), “Tiếng đàn Ta-Lư” , “Cô gái Pa-Cô” (Huy Thục), “Rừng xanh vang tiếng Ta-Lư” (Phương Nam), “Cánh chim báo tin vui” (Đàm Thanh), “Cô gái vót chông” (Hoàng Hiệp), “Bóng cây Kơ-nia” (Phan Huỳnh Điểu - Anh Ngọc), “Người lái đò trên sông Pô-cô” (Cầm Phong), “Sông Đắc-Roong mùa xuân về” (Tố Hải)… Sau hiệp định Pa-ri, bắt đầu từ năm 1973, Mỹ rút quân khỏi miền Nam. Không còn bom B52 rải thảm, không còn máy bay rải chất độc hóa học, bom phốt pho, bom từ trường, bom la-de, bom bi, mìn vướng nổ mùa khô, bom chùm tọa độ mùa mưa... Không còn máy bay C130 dùng máy soi hồng ngoại và máy ngắn laze để nã đạn 40 ly triệt hạ xe ta, “cây nhiệt đới” thu tiếng động tìm nơi đóng quân của ta để trút bom hủy diệt... Từ 1973, các máy bay do ngụy quyền Sài Gòn điều đến đánh phá tuyến đường rất thưa thớt, hiệu quả rất kém cỏi. Nếu ở bên Tây Trường Sơn (Lào), chiến sĩ ta phải ở nhà hầm, nhà thùng, nửa nổi nửa chìm dười mặt đất, thì sau hiệp định Pa-ri, ta “lật cánh” sang phía đông Trường Sơn (Việt Nam), chiến sĩ ta làm nhà ngay trên mặt đất, xe chạy từng tốp giữa ban ngày, đã gần như thời bình. Đó là điều kiện thuận lợi để ta mở tuyến đường bên Đông Trường Sơn (TS), bắt đầu từ Tân Kỳ - Nghệ An, nối vào quốc lộ 14, xuyên dọc các tỉnh Trung bộ, qua Tây Nguyên tới tận Lộc Ninh. Thêm một điều cần nói nữa: Danh xưng “Cựu chiến binh TS” chỉ đúng với những chiến sĩ chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên tuyến đường TS, thuộc biên chế các đơn vị của tuyến chi viện chiến lược này. Còn những cán bộ, chiến sĩ hành quân qua TS để vào Nam, ra Bắc, quân số lên đến vài triệu người, thời gian đi mất vài ba tháng trên tuyến đường giao liên TS, cũng hoàn toàn không phải là lính TS. Nhưng hiện nay danh xưng “cựu chiến binh TS” được gán ghép tùy tiện cho bất cứ ai đã từng đi qua TS, đó là điều không chính xác! Vì vậy, nếu tái hiện đường Trường Sơn mà lấy bối cảnh km số 0 ở Tân Kỳ - Nghệ An, hay lấy bức ảnh chụp năm 1973 ở gần ngã ba Đông Dương ra làm chủ đề để “tán dương”, t