Từ Giải phóng quân ra đi (Trích) Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu Người nghệ sĩ nhân dân vô danh Lúc sinh thời, Má tôi có giọng hát ru con rất hay. Tôi được nghe tiếng hát đó từ lúc lên bảy. Má thường ru cô em gái út của tôi. Khi lớn lên vào lứa tuổi thanh niên, tôi lại được nghe Má tôi hát ru mấy đứa cháu nội. Giọng hát của Má tôi rất tình cảm, không vút cao cũng không lắng trầm. Cứ bình bình, bình bình lên xuống uyển chuyển, đều đều nhưng sâu đậm, dễ cuốn hút người nghe. Có bữa thấy hay hay, tôi lẩm nhẩm bắt chước hát theo, rất thích thú. Thấy vậy, má tôi lại chậm rãi bày vẽ thêm cho tôi. Những câu hát mộc mạc: Chiều chiều ông Lữ đi câu Cái ve, cái chén, cái bầu sau lưng . hay là: Con mèo, con chó có lòng Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai. Không biết có phải ngày xưa, ông già tôi đã say mê về tiếng hát của bà già không? Nhưng lúc nhỏ, thỉnh thoảng tôi lại nghe ông già hay khoe với bạn bè của ông về giọng hát tuyệt diệu của Má tôi. … Tôi xa Má tôi từ năm 1948, đi theo kháng chiến. Khi hòa bình 1954, Má tôi từ Đà Nẵng tức tốc vào Sông Vệ (Quảng Ngãi) thăm tôi. Có đoạn không có xe, buộc bà phải lội bộ bốn, năm chục cây số. Năm đó Má đã sáu mươi bảy tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Má nghe tôi vẫn còn làm “nghề nhạc sĩ” Má rất mừng: “Nghề đó mà cũng sống nhàn nhã đó con”. Sau đó, tôi lại tập kết ra miền Bắc. Hai mẹ con lại xa nhau. Cho đến lúc nước nhà hoàn toàn được giải phóng, tôi vào Sài Gòn ngày 1-5-1975, sau ngày đại thắng chỉ có hăm bốn tiếng đồng hồ. Tôi được gặp lại Má tôi. Má tôi vẫn khỏe mạnh. Đầu óc vẫn còn minh mẫn và đặc biệt là vẫn còn nhớ và có thể hát lại những lời ru ngày xưa. Tôi rất mừng và thầm nhủ, một ngày nào đó sẽ mượn máy ghi âm, ghi lại tiếng hát ru của Má để sau này cho con cháu nghe, một kỷ niệm vô giá. Nhưng, tiếc thay, mơ ước đó của tôi không thể thực hiện được. Má tôi đã mất vào lúc 22 giờ ngày 24-5-1982, hưởng thọ chín mươi lăm tuổi. Mang theo luôn giọng hát ru con ngọt ngào của Má vào cõi hư vô! Giờ đây, mỗi lần đi nói chuyện ở đâu, đến đoạn hát ru, tôi lại thầm tự xỉ vả mình, xem như tôi có lỗi với Má, suốt đời không thể tha thứ được. Tiếng hát ru của Má đã thấm vào tâm hồn tôi từ thuở bé thơ. Chính giọng hát đó đã từ từ dẫn dắt tôi từ những bước đi chập chững vào con đường yêu âm nhạc, cho đến lúc trở thành nhạc sĩ ở tuổi mười chín, hai mươi. Tôi chưa bao giờ đặt vấn đề tìm hiểu xem người thầy dạy nhạc đầu tiên của mình là ai? Người dạy cho tôi những nốt đô, rê, mi… chỉ là người thầy kế tục. Chính Má tôi mới là người thầy đầu tiên dạy cho tôi những nốt nhạc vỡ lòng đậm đà màu sắc dân tộc… Rất tiếc, giờ đây số đông các nữ thanh niên, hầu hết ở các thị trấn và thành phố, không biết hát ru con theo lối cổ truyền. Có người còn cho là xấu hổ, chê nó “quê”. Khi con khóc cứ ậm à, ậm ờ như đi học không thuộc bài, nghe thật buồn cười. Cũng có cô lại hát bằng các bài hát mới, kể cả hành khúc, khi bí quá. Không trách tình trạng một số bài hát mới sáng tác của vài ba nhạc sĩ trẻ gần đây bị nhân dân chê lai Tây, lai Mỹ. Nguyên nhân, một phần vì lúc nhỏ không được nghe tiếng hát ru của mẹ. Không hề được nghe hát dân ca mà chỉ được nghe qua máy cátxét những bài nhạc, bài hát nước ngoài. Cái đó đáng thương hơn là trách móc. Má ơi, Má đã hiến dâng cho quê hương, đất nước một đứa con nhạc sĩ với những bài hát được nhiều người thương yêu. Bàn tay Má đã chăm sóc, vun xới, tạo thêm được một loài hoa đẹp, góp chung vào vườn hoa muôn màu, nghìn sắc của dân tộc. Tất cả những vinh quang rạng rỡ đó con xin kính dâng lên hương hồn Má: một NGHỆ SĨ NHÂN DÂN CHƯA HỀ CÓ TÊN TUỔI. Lời thề trong bài hát năm xưa … Năm đó tôi hăm mốt tuổi. Cái máu say mê âm nhạc đã thúc giục tôi phải viết một bài hát từa tựa như bài Một ra đi là không trở về [nhạc sĩ Lương Ngọc Châu] để góp phần vào phong trào Nam tiến. Tôi phải đến Nguyễn Văn Thừa, người bạn láng giềng rất thân của tôi, mượn cây đàn măngđôlin của anh vài hôm. Sáng tác bài hát mà như người ăn vụng. Chẳng dám nói với ai. Đóng cửa buồng lại, rồi một mình với cây đàn, búng từng tiếng khe khẽ theo lời mình đặt ra trước. Từng câu, từng câu mò mẫm. Hết câu thứ nhất lại đến câu thứ hai. Lúc đặt lời trước, lúc đặt nhạc trước, tùy theo sự cảm hứng không biết trước. Khoảng vài ba ngày sau, tôi hoàn thành bài hát. Tôi cầm đàn đi trả và hát cho Nguyễn Văn Thừa nghe thử. Nguyễn Văn Thừa khen hay nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng là tự tôi có thể sáng tác được bài hát đó. Cũng đúng thôi, từ trước giờ tôi đã được học trường âm nhạc nào đâu. Tiếp sau đó, tôi cầm bài hát đến nhờ anh Nguyễn Văn Trọng, một thanh niên có giọng hát hay của Đà Nẵng thời bấy giờ tập, và ngay tối hôm đó nhờ anh hát trong buổi phát thanh của Phòng Thông tin Tuyên truyền thành phố. Tôi nói dối là bài hát chép được của một anh bộ đội miền Bắc đưa vào. Ngay đêm đầu tiên, bài hát được nhiều người hoan nghênh. Nhất là những anh em bộ đội Nam tiến cứ xin chép tới tấp. Lòng tôi tràn ngập sung sướng, phấn khởi. Sau đó, cứ chiều đến, chờ đúng giờ đoàn tàu hỏa từ Hà Nội vào, anh chị em ở Phòng Thông tin Đà Nẵng kéo nhau lên ga phổ biến. Cứ hết toa này sang toa khác. Chúng tôi chẳng thấy mệt mỏi gì cả, nhất là tôi. Một thời gian không lâu, bài hát Giải phóng quân được phổ biến rộng rãi khắp cả nước. Đến đầu năm 1946, anh Phan Quang Định, Trưởng phòng Thông tin đề nghị tôi đưa bài hát ra Huế xuất bản. Năm 1946 ở Huế chưa có nhà xuất bản âm nhạc. Tất cả bài hát đều phải in tại Hà Nội. Tôi cầm bài hát của mình đi loanh quanh khắp các dãy phố ở Huế, vào hỏi các hiệu sách, cũng chẳng ai biết nhà xuất bản ở đâu. Mỗi Nhà xuất bản Ánh Sáng của anh Hải Triều chỉ in sách chính trị và văn học chớ không in nhạc. Mãi đến xế chiều, tôi đi về đường Gia Long, thấy có một cửa hiệu bán văn phòng phẩm trông có vẻ bề thế, đẹp đẽ lắm. Tôi đánh bạo vào hỏi. Người chủ tiệm trong trắng trẻo, nho nhã hỏi tôi cần mua gì. Tôi trình bày nguyện vọng muốn xuất bản bài hát Giải phóng quân . Anh trả lời ngay: “Ở đây, chúng tôi chỉ bán đồ dùng văn phòng và sách vở học sinh chớ không xuất bản. Nhưng bài hát Giải phóng quân của anh là bài ra sao?”.