Vào giờ Sửu rạng sáng một ngày cuối tuần trăng của tháng 5 âm lịch, tại thôn Vạc, nay là Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, có một cậu bé họ Đỗ đã ra đời trong túp lều ở vườn ổi. Do sinh vào tháng nhuận nên ông thân sinh ra cậu lúc đó đã đặt tên cậu là Đỗ Nhuận. Đấy là năm Nhâm Tuất 1922. Chuyện đặt tên ngỡ vô tình ấy lại định danh nên một nhạc sĩ lớn của nền tân nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Đỗ Nhuận, với hơn 20 năm làm Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam và là tác giả của biết bao tác phẩm âm nhạc đồ sộ, làm rạng rỡ đất nước. Năm lên 3 tuổi, mẹ đã bế cậu bé Đỗ Nhuận ra Hải Phòng ở với bố đang là lính kèn. Và để tiện cho việc nhập học khi đủ tuổi, bố đã chọn cho cậu con trai ngày khai sinh là 10-12-1922. Thế là cả tuổi thơ Đỗ Nhuận đã trải qua tại làng Lạc Viên đầy ao chuôm và tiếng động của nhà máy tơ. Người thầy đầu tiên là thầy Đối, vừa dạy chữ vừa dạy Đỗ Nhuận đánh trống. Những tiếng trống đã đánh thức niềm đam mê âm nhạc trong tâm hồn Đỗ Nhuận. Thầy Đối còn dạy Đỗ Nhuận thuộc một bản hành khúc ngắn “Cùng nhau đi hồng binh” nghe đâu của một người Hải Phòng tên là Đinh Nhu và đang bí mật hoạt động chống Pháp. Đến khi chính thầy Đối bị mật thám bắt thì Đỗ Nhuận đã hiểu rằng là người dân nước Việt ai ai cũng phải đồng lòng tìm thời cơ đứng lên giũ sạch xiềng xích nô lệ. Bởi vậy, khi học hết tiểu học, rồi sang trung học, Đỗ Nhuận đã tự nguyện trở thành một hướng đạo sinh để có cơ hội hun đúc cho mình lòng yêu nước. Năng khiếu âm nhạc không chỉ cho Đỗ Nhuận học chơi các nhạc khí rất nhanh mà còn hướng tâm hồn thanh xuân của Đỗ Nhuận đến việc sáng tác ra bài hát mang hơi thở lịch sử cho các tráng sinh hướng đạo. Và bài hát “Trưng Vương” đã ra đời năm 1936. Việc gặp đồng chí Vũ Quý đã khiến Đỗ Nhuận có một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời, bước ngoặt của sự dấn thân, dâng hiến cho cách mạng. Bỏ dở trung học, Đỗ Nhuận làm đủ mọi công việc để có điều kiện tuyên truyền cách mạng. Hết dạy học lại làm công nhân. Vừa tuyên truyền cách mạng vừa sáng tác bài hát yêu nước. Tuần nào Đỗ Nhuận cũng lên Hà Nội mua mực in và thạch trắng để in truyền đơn, song vẫn tranh thủ tìm gặp bậc thầy Nguyễn Xuân Khoát để trau dồi thêm kỹ năng âm nhạc. Những bài hát yêu nước như “Lời cha già” , “Đường lên ải Bắc” đã ra đời vào thời kỳ này. Mật danh Đỗ Quyên để hoạt động cũng là bút danh của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Sau một lần rải truyền đơn và treo cờ cách mạng ở huyện Kim Thành, Đỗ Nhuận bị bắt ở Hải Dương rồi đưa lên Hỏa Lò (Hà Nội), sau đó đi đày ở ngục Sơn La. Đây là thời kỳ ra đời của những bài hát trong tù mà sau này ấn hành tại Nhà xuất bản Hoa Lư năm 1946 với cái tên “Nhạc hận” . Cuộc vượt ngục Sơn La thành công đầu năm 1945 đã đưa Đỗ Nhuận trở lại Hà Nội tìm các đồng chí cũ. Đỗ Nhuận gặp lại Nguyễn Đình Thi-người bạn từ Hải Phòng, đã từng cùng nhau chơi nhạc ở vườn hoa Đốc Lý. Đỗ Nhuận cũng gặp Văn Cao, đưa hành khúc “Du kích ca” cho Văn Cao chép lại và ấn loát trên Báo Độc lập. Ngày tổng khởi nghĩa, Đỗ Nhuận đã tham gia giành chính quyền ở Kẻ Sặt quê nhà, sau đó lên Hà Nội những ngày đầu độc lập. Ở Hà Nội những ngày tự do, Đỗ Nhuận vừa sửa bản in cho Báo Cứu quốc của đồng chí Xuân Thủy vừa mò mẫm học chơi các nhạc khí như piano ở trụ sở dân quân tự vệ số 101 đường Trần Hưng Đạo, học chơi đàn baian-cây đàn đã được một người mua của nhạc sĩ Nga lưu vong, mang lên chơi trong lễ chào cờ của Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và đồng chí Trần Quốc Hoàn đã trao lại cho Đỗ Nhuận dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Mellewitz người Nga. Còn nhạc sĩ Victor cũng là người Nga thì dạy violon. Ngay thời điểm ấy, Đỗ Nhuận đã muốn viết những bài hát trữ tình khác thời tiền chiến. Và “Nhớ chiến khu” đã ra đời, thôi thúc Đỗ Nhuận đi theo con đường sáng tác âm nhạc chuyên nghiệp. Ông xin rời tòa soạn báo. Qua đồng chí Đào Duy Kỳ, Đỗ Nhuận thành lập đội văn nghệ thiếu nhi mang tên “Sao vàng” có trụ sở ở cuối đường Bà Triệu. Lúc đó Nam Bộ đã kháng chiến, thế là các hành khúc “Đường trường vô Nam” và “Tiếng súng Nam Bộ” ra đời. Khi đội “Sao vàng” giải tán, Đỗ Nhuận lập ra đội kịch Nam Tiến với một ban nhạc họ Đỗ gồm: Đỗ Nhuận (sáo và violin), Đỗ Lạc (sau là nhạc sĩ Cẩm Phong, chơi baian và hát đơn ca), Đỗ Liên (chơi guitar Hawaienne), Đỗ Mạnh Cường (là nhạc sĩ Tu My, chơi banjo và guitar) để hành phương Nam biểu diễn. Nhưng đến Huế thì lại được điều trở về Hà Nội. Một đội “Sao vàng” mới được thành lập cho Quân đội. Đỗ Nhuận và các anh em trong đội trở thành người lính ngày 1-11-1946. Mặt trận Hải Phòng là nơi đội “Sao vàng” biểu diễn phục vụ đầu tiên, sau đó là các địa phương khác những ngày sau Toàn quốc kháng chiến. Đỗ Nhuận đã viết ra một bài hát cho đội “Sao vàng” là bài “Đoàn lữ nhạc” mang hơi thở trẻ trung của thời kỳ âm nhạc pop tiền rock trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì thế mọi người gọi đội “Sao vàng” là Đoàn Lữ nhạc. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Khi đến với đoàn thiếu sinh quân rất tài năng chơi nhạc khí và hát hợp xướng, từ yêu cầu của một người bạn tù cũ nay làm công tác dân quân du kích, Đỗ Nhuận muốn viết một hợp xướng về đề tài này phải hơn “Du kích ca” ngày nào. Nhưng viết thì phải có cảm hứng từ thực tế. Thực tế ấy đã ập đến trong một chiều ghé qua Trung Hà hỏi thăm một cô học sinh thì được kể rằng cô ấy đã vào du kích và chèo thuyền dọc sông Thao. Vậy là hợp xướng “Du kích Sông Thao” ra đời; cùng “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi, “Trường ca sông Lô” của Văn Cao và bài thơ dài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, đã chảy lai láng trong trường kỳ kháng chiến. Nhưng chính cuộc trường chinh lên Tây Bắc theo đoàn quân tác chiến, Đỗ Nhuận đã nhận ra cái mỏ dân ca, giúp cho Đỗ Nhuận làm mới ngôn ngữ âm nhạc của mình ngay trước mắt và lâu dài. Trước mắt là bộ 3 hành khúc thuần Việt “Hành quân xa” , “Trên đồi Him Lam” và “Chiến thắng Điện Biên” . Trong “Chiến thắng Điện Biên” đã có sự hòa trộn giữa dân ca Tây Bắc và dân ca đồng bằng rất tự nhiên, âm hưởng xòe Thái hòa với nốt nhạc chèo của “Sắp qua cầu” . Còn lâu dài là sự ấp ủ cho opera “Cô Sao” của 10 năm sau. Sau Hiệp định Geneve ít năm, Đỗ Nhuận là nhạc