Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Hoàng Việt đã là nhạc sĩ nổi tiếng với nhiều ca khúc mang âm hưởng dân gian như Lá xanh , Ai nghe chiến dịch mùa xuân (1950), Tin tưởng , Đêm mưa dầm (1951), Lên ngàn (1952), Lửa sáng , Nhạc rừng (1953), Mùa lúa chín (1954)... Mỗi bài đều gắn với những bối cảnh lịch sử cụ thể, và qua từng năm, bút pháp của nhạc sĩ càng trở nên điêu luyện hơn. Cái cách mà Hoàng Việt để lại dấu ấn cho người nghe không phải là những khẩu hiệu xơ cứng, mà ngay trong bối cảnh vô cùng khó khăn của cuộc kháng chiến, người ta vẫn thấy một sự vui tươi, nhẹ nhàng đến lãng mạn trong từng ca khúc. Là một người con của Nam Bộ, Hoàng Việt đã không chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình tượng âm nhạc thông qua ngôn ngữ âm nhạc dân gian Nam Bộ, mà còn rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ âm nhạc mới để thể hiện những điều muốn nói. Mà Tình ca chính là một ca khúc đánh dấu bước ngoặt mới trong cuộc đời sáng tác của người nhạc sĩ tài ba này. Đó là vào mùa xuân năm 1957, tiết trời vẫn còn vương vấn cái lạnh của mùa đông xứ Bắc. Người nhạc sĩ Nam Bộ lúc đó đang là học viên của Trường Âm nhạc Việt Nam (13 Cao Bá Quát - Hà Nội). Cảnh xuân, dù trong chiến tranh hay hòa bình, vẫn vốn gợi cho con người nhớ về quê hương với những kỷ niệm chẳng thể phai mờ trong tiềm thức. Hoàng Việt cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bằng trái tim đa cảm của người nhạc sĩ trẻ, nỗi niềm nhớ quê, nhớ vợ, nhớ bạn bè, người thân lúc này bùng lên trong ông mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đúng thời gian ấy, một niềm vui trong cái éo le nghịch lý đã xuất hiện. Vui là vì Hoàng Việt nhận được thư của vợ từ Sài Gòn gửi ra chứa đựng bao tình cảm riêng tư. Cái éo le, nghịch lý mà không ai ngờ tới đó là hành trình của bước thư vô cùng ngoằn ngèo, trắc trở: Từ Sài Gòn sang Pari, lòng vòng qua một số nước rồi mới tới Hà Nội. Ông nhận được thư trong tâm trạng vô cùng phấn chấn. " Ông nghĩ đến nỗi khổ của người vợ phải xa cách chồng, sống trong vòng cương tỏa, o ép của kẻ thù... Một cảm xúc mãnh liệt về tấm lòng thủy chung của những lứa đôi trước phong ba bão táp của cuộc đời, khát vọng về ngày thống nhất đoàn tụ đã bùng lên trong ông. Và, trái tim của người nhạc sĩ đã được cộng hưởng, dồn nén đến đỉnh điểm từ tình yêu quê hương đất nước với tình cảm riêng tư, để một đêm thức trắng cho ra đời bản Tình ca nổi tiếng. Điều đáng chú ý là, ở thời điểm đó, Tình ca đã gây nên một cơn "chấn động" lớn trong giới âm nhạc nói riêng và giới nghệ thuật nói chung. Nhiều người cho rằng Hoàng Việt " quá liều" trong việc đề cập tới tình yêu đôi lứa, khi mà điều kiện lịch sử chưa cho phép. Điều đó có một phần đúng, nhưng chưa đủ. Bởi , Tình ca của Hoàng Việt ,trong nó chứa đựng nhiều điều hợp lý, mà nói theo lời của Mác thì: cái gì hợp lý sẽ tồn tại. Nhìn sâu hơn, tính hợp lý đó được đặt theo chiều ngang - trục hoành của lịch sử văn hóa âm nhạc nước nhà. Rõ ràng Tình ca là điểm nối giữa cái đã có của quá khứ với hiện tại và cái sẽ có ở tương lai. " Chim dăng dăng bay ngoài nắng xuân đẹp thay! Tan cơn phong ba lòng đất yên rồi đây", Trong những năm tháng trước cách mạng, loại nhạc này có sự phân chia thành ba dòng ca khúc: cách mạng , yêu nước tiến bộ (hoài vọng lịch sử) và tiền chiến (trữ tình lãng mạn). Cũng bởi do hoàn cảnh lịch sử chi phối, nên chỉ sau mấy năm hình thành, dòng ca khúc hoài vọng lịch sử đã hợp lưu cùng dòng ca khúc cách mạng. Riêng với dòng ca khúc trữ tình lãng mạn thì bị đứt đoạn, nhưng nó vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn và ý tưởng của nhiều nhạc sĩ. Như vậy, Tình ca của Hoàng Việt ra đời là sự tiếp nối chủ đề tình yêu của dòng ca khúc trữ tình lãng mạn, tất nhiên là ở một tâm thế khác. Từ thời điểm đó cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, nhiều nhạc sĩ đã chọn những hướng đi khác nhau để “ khai thông” cho dòng ca khúc này mà chúng ta có thể kể đến là: Hướng thứ nhất , các nhạc sĩ đi vào khai thác đề tài tình yêu trên cơ sở những mô-tip cốt truyện và âm nhạc dân gian miền núi phía bắc. Nhiều bản tình ca: Tiếng sáo gọi người yêu (Nguyễn Đình Tấn ), Sao cô em chưa về (Lê Lan), Trước ngày hội bắn (Trịnh Quý), Chiếc đàn môi (Nguyên Nhung), Tình ca Tây Bắc (Bùi Đức Hạnh - Cầm Giang)... ra đời đã nhận được sự cộng cảm lớn của đông đảo công chúng. Hướng thứ hai , thuộc về Hoàng Việt khi tác giả đã " xông" thẳng vào hai vấn đề then chốt của tình ca mới: nội dung đề tài mang tính cập nhật, (nghĩa là gắn với bối cảnh lịch sử đương đại) và sử dụng ngôn ngữ âm nhạc mới. Như vậy, ở một phương diện nào đó, có thể coi Hoàng Việt là nhạc sĩ đặt nền móng cho sự ra đời của một nhánh tình ca, mà trong đó có sự kết hợp giữa ngôn ngữ âm nhạc mới với không khí của thời đại. Sau đó ít lâu, hướng thứ ba cũng có nhiều điều giống hướng thứ hai, nhưng lợi thế hơn, an toàn hơn trong cách ứng xử văn hóa với xã hội, lịch sử. Đó là, các nhạc sĩ khai thác nội dung trong thơ đương đại. Hướng này có Nhớ (Lê Yên - Thanh Hải), Nhớ (Hoàng Vân - Nguyễn Đình Thi), Tình em (Huy Du - Ngọc Sơn)... Dẫu vậy, lịch sử vẫn là lịch sử, có tính quy luật riêng, thậm chí quy luật ấy có đủ khả năng chi phối những hoạt động vật chất lẫn tinh thần của một thời đại. Tình ca , rồi Tình em , hay Nhớ cũng phải lắng dịu một thời gian dài, khi mà lịch sử hội đủ các yếu tố xã hội, nhận thức... thì nó mới được nhìn nhận là những tác phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật. Riêng với Tình ca , chúng ta đều phải ghi nhận sự táo bạo trong tư duy của nhạc sĩ Hoàng Việt. Cái tư duy nghịch lý trong cái hợp lý được thể hiện rõ nét cả trong và ngoài tác phẩm. Trong tác phẩm, đầu tiên là cái tôi, cái tình yêu riêng của nhạc sĩ được đề cập: "Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu quê ta. Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn trong phong ba. Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra...". Rồi ở lời 2 có: "... Chim dăng dăng bay ngoài nắng xuân đẹp thay! Tan cơn phong ba, lòng đất yên rồi đây. Em hãy nở nụ cười tươi xinh. Như đóa hoa xuân chào riêng anh. Nói nhau nghìn lời qua đôi mắt xanh". Bây giờ chiến tranh đã đi qua, tình yêu đôi lứa đang lan tràn trong ca khúc Việt, thậm chí là quá ủy mị, thiếu sức sống. Nhưng, ở th