Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn có lần nói: Một bài hát hay chính là kết quả của một quá trình tích lũy vốn sống và cảm xúc đã đến lúc chín mọng. Còn những luật lệ, kỹ thuật chỉ là những điều kiện để "bảo đảm" xây dựng một tác phẩm trọn vẹn. Nguyễn Đức Toàn kể về bài Tình em biển cả rằng: “Tôi đi biển đã nhiều, từ cái ngày hải quân của ta chỉ vẻn vẹn mới có mấy cái thuyền gỗ. Sau mỗi lần đi ấy tôi thường viết một hai bài hát về biển, nhưng chẳng có bài nào hay. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Mãi đến năm 1975, trong những ngày hòa bình đầu tiên trên đất nước tôi lại có dịp ra biển… Biển trong những ngày ấy thật tuyệt đẹp: sóng, nước, mây, trời… và dường như chưa có bao giờ tôi thấy biển đẹp như hôm ấy. Tôi khẽ thốt lên: "Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say…". Bài hát cũng mở đầu bằng những chữ ấy. Rõ ràng tôi đã viết từ một ý nghĩ, một cảm hứng chợt đến, nhưng phải đâu là một lần đầu tiên gặp biển, ngược lại đó là kết quả của một sự thu nhận lâu dài, lặp đi, lặp lại nhiều lần qua những lần đi biển và bài ca ấy thành công khi cảm xúc về biển đã chín, đã tràn đầy những yêu thương…”. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận trong cuộc đời hoạt động âm nhạc của mình đã tổng kết có năm điều cần thiết đối với người sáng tác: "Ví như người có năm ngón tay thì mới có bàn tay sáng tạo". Năm điều đó là: Đi, Nghe, Đọc, Học, Viết. Đỗ Nhuận kể, năm 1952 trong một chuyến đi chiến dịch với một nhà thơ có am hiểu về âm nhạc dân tộc, trên đường, hai người hát nhiều các bài dân ca theo nhịp chân bước. Đỗ Nhuận xướng một câu hát theo điệu hề mồi mà anh thuộc từ nhỏ: Ai về Phú mi tỉnh Hưng Yên (sol, rê, sol, là, đồ, rê). Hát xong, ông bỏ lời ca rồi xướng âm theo điệu nhạc nhưng mạnh hơn theo lối diễn tả của hành khúc, xong Đỗ Nhuận hỏi nhà thơ: - Nghe có dân tộc không? - Rất rõ! Đỗ Nhuận lại hỏi: - Nghe có hùng mạnh không? - Rất hùng mạnh! Đỗ Nhuận khẽ reo lên: thế là tìm ra rồi. Tại sao không dựa vào kinh nghiệm của dân ca Việt Nam mà xây dựng hành khúc Việt Nam, sao cứ bị bó hẹp và luẩn quẩn với điệu tính trưởng và tiết tấu phương Tây. Cách vài tháng sau chuyến đi với nhà thơ ấy, Đỗ Nhuận theo bộ đội hành quân lên Điện Biên Phủ. Lúc đó anh cùng hành quân với đơn vị X. từ Thái Nguyên qua sông Hồng, sang địa phận Yên Bái. Cấp trên phổ biến cho cán bộ và chiến sĩ: "Chúng ta hành quân đi đánh Trần Đình". Mọi người đoán non đoán già là hành quân nghi binh qua Nghĩa Lộ rồi quật về đánh ở vùng đồng bằng, vì trong danh địa ở miền Bắc không có địa phương nào tên là Trần Đình cả. Mọi người xôn xao bàn tán. Hồi đó anh em chiến sĩ còn mặc quần áo nâu, đi dép cao su, trong đêm trăng, vai đeo ba lô, gạo, đạn và súng vẫn bước đều. Cán bộ chính trị của đơn vị biết rõ thắc mắc của chiến sĩ mình nên nói một câu động viên: “Đời chiến sĩ đâu có giặc là ta cứ đi!”. Đỗ Nhuận đi trong hàng quân cũng vừa có thắc mắc như anh em, lại lo tìm đề tài sáng tác. Câu nói giản dị nhưng sâu sắc đó gợi ngay cho Đỗ Nhuận một chủ đề sáng tác. Anh lấy đó làm câu kết và viết trước vào sổ tay: “Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi!” Sau đó nghĩ đến hai câu mở đầu theo thể thất ngôn: “Hành quân xa (dẫu) qua nhiều gian khổ Vai vác nặng, ta (đã) đổ mồ hôi…” Viết xong một đoạn Đỗ Nhuận đề nghị anh em cùng hát theo. Sau đó ông viết tiếp lời hai: “Dù đôi chân qua những chặng đường có mỏi…” Hành quân đến Sơn La, đơn vị tạm nghỉ ở bản. Đỗ Nhuận tranh thủ đi thăm lại nhà tù Sơn La, nơi cách đây mười năm anh bị Pháp bắt giam. Ngồi trên nền xi măng cũ trong nhà tù hoang tàn, anh viết tiếp lời ba và lời bốn: “Bọn xâm lăng (nó) gây nhiều đau khổ Kia đồng bào (đang) mắt đỏ chờ ta” Rồi hành quân. Cứ như thế vừa đi Đỗ Nhuận vừa hoàn chỉnh bài hành khúc, anh ghi nhạc bằng chữ số vào sổ tay. Thoạt đầu nét nhạc theo bước nhịp đi của anh, bước chân tuy không nhanh nhưng chắc chắn, quả quyết. Giai điệu âm nhạc ở đây giản dị tự nhiên xây dựng hành khúc dựa trên chất liệu dân tộc mà ông đã học được ở điệu dân ca hề mồi từng có dịp trao đổi với nhà thơ nọ hồi năm 1952, theo quãng 7 (son la). Lúc đầu bài hành khúc có tên Đâu có giặc là ta cứ đi sau đổi là Hành quân xa . Huy Thục cũng là một nhạc sĩ đi nhiều, có mặt ở nhiều chiến trường, nhiều địa phương: Cảm hứng sáng tác chân thực của ông bắt nguồn từ trong thực tế cuộc sống chiến đấu và sản xuất. Năm 1968 Huy Thục vào mặt trận đường 9. Nhạc sĩ Huy Thục. Thời gian đầu ông chưa biết viết gì trước cuộc sống phong phú và hào hùng quá. Viết về những trận đánh? Những con người ở đây ư? Nhưng dưới khía cạnh nào? Nếu không khéo sẽ rất dễ sa vào chung chung, nghèo nàn… Vốn có kinh nghiệm khai thác tài liệu sống. Huy Thục lân la xuống các đơn vị, gặp gỡ chiến sĩ cùng sinh hoạt với họ và hỏi đủ thứ chuyện trên đời. Một buổi trưa nóng bỏng ở đất Quảng Trị các chiến sĩ rủ Huy Thục đi tắm. - Tắm ở đâu - Dưới chân đồi, suối La La! Mới nghe đến chữ "suối" cái nóng như dịu bớt trong đầu ông. Hình ảnh con suối tỏa mát ngay trong tâm trí. Những nét cười hồn nhiên thanh thản của những nét mặt trẻ măng. Một sự thanh bình, yên ắng trong tâm hồn: “có một thực tế tồn tại - có những phút thảnh thơi, tươi roi rói của sự nghỉ ngơi giữa hai trận đánh”. Thế là Huy Thực nắm ngay cái "tứ" này để miêu tả cuộc sống chiến đấu của người chiến sĩ. Ông phát hiện ra chất lãng mạn khỏe khoắn có thực trong đời sống chiến đấu ở đây. Những nốt nhạc và lời ca đầu tiên hình thành như một tiếng thốt ra từ cửa miệng đầy hân hoan, ngỡ ngàng: “Ơi! Dòng suối La La. Nước trong xanh hiền hòa…”. Cảm xúc trữ tình đó đi suốt bài ca, như một câu chuyện kể, bắt đầu từ con suối, Huy Thục đưa vào câu chuyện chiến đấu, kể về chiến công oanh liệt của mười dũng sĩ trong tiểu đội anh hùng Bùi Ngọc Đủ trên ngọn đồi không tên tiêu diệt một tiểu đoàn lính thúy đánh bộ Mỹ. Bài hát Dòng suối La La ra đời từ buổi đi tắm ấy và được văn công xung kích hát phục vụ ngay. Sau này, mỗi lần đi tắm ở suối, các chiến sĩ lại ngân nga: “Ơi, dòng suối La La, nước trong xanh hiền hòa…”. Một lần khác, Huy Thục vào tây Khe Sanh không khí chiến trường thật náo nhiệt. Bộ đội dân công ngược xuôi như đi trẩy h