Nếu tính ca khúc Việt truyền miệng, chưa in thành văn bản thì có lẽ “Cùng nhau đi hồng binh” của Đinh Nhu là ca khúc đầu tiên mở ra thuở bình minh Tân nhạc. Ca khúc ấy lại là sử ca – một ca khúc viết về đội quân hồng binh của khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh. Cũng thời kỳ ấy, có lẽ trước sau chút ít, những thanh niên tham gia phong trào Hướng đạo, cũng truyền miệng một ca khúc sử ca viết về Đinh Bộ Lĩnh mang tên “Anh hùng ca” của huynh trưởng Hổ Xám – nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy: “Anh hùng xưa nhớ thời là thời niên thiếu, Dấy binh lấy lau làm cờ, quên mình là mình giúp nước, Dấn thân khắp nơi nguy nàn, ngàn thu lừng danh đất nước, Sứ quân khắp nơi kinh hoàng, tiếng lừng nước Nam”. Có thể nói, sử ca khởi sự Tân nhạc Việt Nam thì chắc cũng không ai phản đối. Điều đó càng được củng cố vì chỉ sau khi những ca khúc Việt đầu tiên được in trên báo “Ngày nay” mùa thu 1938, như tờ khai sinh cuộc hoài thai sinh nở Tân nhạc Việt Nam được vài năm, đã dấy lên trong thuở bình minh ấy một phong trào viết những ca khúc yêu nước khởi sự từ nhóm “Đồng Vọng” của Hoàng Quý ở Hải Phòng, rồi sau đó nở rộ trong phong trào Thanh niên – Lịch sử là Tổng hội sinh viên ở Hà Nội của Lưu Hữu Phước sau đấy là Sài Gòn từ cuộc “Xếp bút nghiên”. Và ở giữa là kinh thành Huế với những ca khúc lịch sử của Ngô Ganh, Văn Giảng, Trần Hoàn… Dường như các nhạc sĩ đã viết lại lịch sử nước nhà từ thuở Vua Hùng. Đấy là “Giỗ Hùng Vương” (hay “Đi hội Đền Hùng”) của Lưu Hữu Phước, là “Ngày xưa” viết về Hai Bà Trưng của Tô Vũ hay “Hồn tử sĩ” của Lưu Hữu Phước, “Trưng Vương” của Đỗ Nhuận. Chiến công Bạch Đằng oanh liệt từ Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo đã được nhiều nhạc sĩ cảm hứng. Đấy là “Trên sông Bạch Đằng” của Hoàng Quý, “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước, “Hò kéo gỗ trên sông Bạch Đằng” của Văn Cao. Thời vua Đinh, sau “Anh hùng xưa” của Hoàng Đạo Thúy là “Bóng cờ lau” của Hoàng Quý. Thời vua Lý lại có “Người xưa đâu tá” của Lưu Hữu Phước. Thời Trần có “Trần Quốc Toản”, “Chu Văn An” của Ngô Ganh và đặc biệt là “Hội nghị Diên Hồng” của Lưu Hữu Phước. Thời Hồ ngắn ngủi cũng được Đỗ Nhuận thốt kêu trong ca cảnh “Nguyễn Trãi – Phi Khanh”. Thời Lê là “Nước non Lam Sơn” của Hoàng Quý, “Bóng người núi Lam” và “Ải Chi Lăng” của Lưu Hữu Phước. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh có “Hờn sông Gianh” của Lưu Hữu Phước. Thời Tây Sơn thì có “Thăng Long hành khúc ca”, “Đống Đa” của Văn Cao. Thời Nguyễn có “Quốc ca Nam triều” của Tôn Thất Hối. Và sau đó là sôi sục một thời tiền khởi nghĩa với hàng loạt những hành khúc bỏng cháy nhiệt huyết tuổi trẻ như “Tiếng gọi thanh niên”, “Lên đàng”… của Lưu Hữu Phước; “Cờ Việt Minh” của Vương Gia Khương; “Tiến quân ca”, “Chiến sĩ Việt Nam” của Văn Cao; “Du kích ca” của Đỗ Nhuận; “Phất cờ Nam tiến” của Hoàng Văn Thái và cuối cùng là một hành khúc viết vào ngày Hà Nội khởi nghĩa 19/08/1945 có tựa đề chính là “Mười chín tháng Tám” của Xuân Oanh. Trong những ngày đầu cách mạng, người yêu nước thời đó lại hát vang “Bắc Sơn”, “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” của Văn Cao; thiếu nhi thì hát “Kim Đồng” của Phong Nhã. Khi giặc Pháp gây hấn ở Nam Bộ thì hát “Tiếng súng Nam Bộ” của Đỗ Nhuận và sau đó là “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn. Những chiến sĩ Nam tiến thì hát “Xuất quân” của Phạm Duy, đi qua Đà Nẵng thì mang theo “Đoàn Vệ quốc quân” của Phan Huỳnh Điểu. Ở Hải Phòng và Hà Nội thì hát “Cảm tử quân” của Hoàng Quý để rồi khi Toàn quốc kháng chiến thì hát “Mơ đời chiến sĩ”, “Thủ đô huyết thệ” của Lương Ngọc Trác. Và sau đó là lai láng trong “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi. Trong trường kỳ kháng chiến, mặt trận nào, vùng miền nào cũng có những nhạc sĩ ghi lại lịch sử chiến đấu, lập chiến công bằng âm nhạc. Ở chiến trường miền Bắc, khi giặc Pháp tấn công chiến khu Việt Bắc thì bên cạnh “Chiến công Việt Bắc” của Phạm Ngữ là 5 ca khúc dành cho chiến thắng sông Lô thu đông 1947. Đó là “Lô Giang” của Lương Ngọc Trác, “Chiến sĩ sông Lô” của Nguyễn Đình Phúc, “Sông Lô” của Văn Cao, “Đoàn quân sông Lô” của Lưu Hữu Phước, “Tiếng hát trên sông Lô” của Phạm Duy. Bên cạnh “Trận Đoan Hùng” của Lê Yên, Nguyễn Đình Phúc còn có “Bình ca” nữa. Giữa thời kỳ cầm cự đẩy mạnh hoạt động du kích thì Đỗ Nhuận có “Du kích sông Thao”, Văn Cao có “Làng tôi”: “Làng tôi theo đoàn quân du kích”. Khi giặc Pháp nhảy dù Bắc Cạn 1949, lại có “Chiến thắng Phủ Thông” của Đinh Ngọc Liên. Khi ta tiến hành chiếm dần Trung Du thì có “Quê em miền Trung Du” của Nguyễn Đức Toàn, “Làng tôi” của Hồ Bắc, “Trung du” của Ngỗ Sĩ Hiển – Phạm Chí Nhân. Khi ta mở chiến dịch biên giới thì có “Tiểu đoàn Lũng Vài” của Văn Cao, “Tiểu đoàn Lũng Vài lên đường lập công” của Hữu Hiệp, “Vào Đông Khê” của Văn Chung, “Đường Lạng Sơn” của Phạm Duy, “Mường Loóng” của Ngọc Bích. Khi ta mở chiến dịch đường số 6 thì có “Chiến thắng Hòa Bình” của Văn Ký, “Quyết chặt tan đường số 6” của Văn Đức, “Tin chiến thắng” của Hoàng Vân. Khi ta tràn về đồng bằng châu thổ Bắc thì có “Về đồng bằng” của Nguyễn An, “Kể chuyện du kích làng Nguyễn đánh giặc” của La Thăng; viết về các nhân vật thì có “Lỳ và Sáo” của Văn Chung; về chị Nguyễn Thị Chiên là “Sóng cả không ngã tay chèo” của Đỗ Nhuận; “Anh hùng Nguyễn Quốc Trị” của Trần Ngọc Xương; về gương hy sinh của Bùi Thị Cúc có “Kể chuyện Dôi a” của Nguyễn Văn Tý; gương lao động sản xuất nông nghiệp thì có “Bài ca Hoàng Hanh” của Lê Yên. Khi ta mở chiến dịch Tây Bắc thì có “Qua miền Tây Bắc” của Nguyễn Thành, “Đường lên Tây Bắc” của Văn An, “Đâu có giặc là ta cứ đi” của Đỗ Nhuận. Bước vào trận Điện Biên là “Hò kéo pháo” của Hoàng Vân, “Trận Him Lam” của Đỗ Nhuận và khép lại là “Chiến trắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận. Khi về giải phóng Thủ đô thì đoàn quân chiến thắng hát vang “Tiến về Hà Nội” của Văn Cao. Khi về giải phóng Hải Phòng – giải phóng hoàn toàn miền Bắc thì hát “Tiến về Thành Tô” của Nguyễn An. Ở miền Trung từ Thanh – Nghệ – Tĩnh đến Bình – Trị – Thiên, rồi đến Nam – Ngãi – Bình – Phú – Khánh Hòa – cực Nam – Tây Nguyên. Lại một dòng sử ca ăm ắp hào sảng suốt dẻo đất Liên khu IV, Liên khu V, Khu VI. Từ vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh tự do, nhữn