(Tượng đài Chiến thắng sông Gianh) Sông Gianh là con sông lớn nhất, trong 5 con sông của tỉnh Quảng Bình. Sông Gianh phát nguyên từ bốn đầu nguồn: Nguồn Son, nguồn Nan, nguồn Trổ và nguồn Nậy. Sông Gianh lòng sông sâu, lượng nước chảy mạnh, bắt đầu từ rừng núi Trường Sơn hiểm trở, lách núi, xuyên ngàn, tạo ra nhiều ghềnh thác rồi đổ ra biển Đông. Với chiều dài con sông là 152 km, chiêù rộng có nơi đến 900 m, nó đi qua bao gồm đất của 4 huyện: Minh Hóa, Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch. Khi các nguồn sông chảy về nhập lại tại ngã ba Cửa Hác tạo thành con sông Gianh, hay là sông Đại Linh Giang. Dòng nước sông Gianh về đến cửa biển thì hơi hẹp lại và tiếp nhận thêm dòng nước của con sông nhỏ gọi là Rào Chùa, hay còn gọi là Rào Bồ Khê, Thanh Trạch ở bờ phải phía Nam cửa lạch. Sông Gianh từ ngàn xưa, là con sông nằm chính giữa châu Bố Chính, thời Nguyễn Hoàng là ranh giới của 2 châu, Nam Bố Chính: Chúa Nguyễn, bắc Bố Chính: Chúa Trịnh, là ranh giới huynh đệ tương tàn suốt 200 năm. Gần mười tám thế kỷ đã đi qua, trên mảnh đất Nam Bắc ở cuối dòng sông Đại Linh Giang này, những người dân ở đây nối tiếp nhau, đi qua nhiều thế hệ đã chứng kiến biết bao nhiêu cuộc chiến đẫm máu và đau thương. Trước đó từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ XI mảnh đất Quảng Bình là vùng tranh chấp giữa hai vương quốc Chăm Pa và Đại Việt. Vùng Nam Bắc Nam Sông Gianh nơi chiến sự ngút ngàn, ngày đêm khói lửa binh đao... Năm 1285 quân Toa Đô (Nguyên Mông) Từ Chiêm Thành đánh vào phủ Bố Chính; nhân dân Bố Chính đã thực hiện chủ trương vườn không nhà trống; góp sức người sức của, chống quân Nguyên Mông ( thế kỷ thứ XIII .) Thời Hậu Trần và thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống quân Minh nhân dân phủ Tân Bình (Quảng Bình ngày nay) nói chung và nhân dân hai bên bờ Nam bắc sông Gianh nói riêng đã cùng nghĩa quân do Trần Quý Kháng chỉ huy ( Thế kỷ XV ) đã anh dũng chống giặc Minh xâm lược. Tháng 8 năm 1425 sau khi vây thành Nghệ An, Lê Lợi phái tướng quân Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ đem một nghìn quân, một voi chiến vượt sông Gianh vào đánh quân Minh giải phóng Tân Bình - Thuận Hoá, nhân dân hai bờ Nam Bắc sông Linh Giang hân hoan mừng chiến thắng. (Mến dòng sông Gianh biết danh Lũy Thầy) “...Sông Lam lấp lánh bóng Gươm Sông Gianh sóng nhạc xuôi buồm tướng quân...” Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành khi dừng hạm đội ở cửa sông Gianh này đã tức cảnh sinh tình để lại bài thơ “Linh Giang Hải Tấn”. Năm trăm bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng tiếng lòng của một vị Vua ra trận vẫn vang mãi trong lòng hậu thế... Dòng sông Gianh lịch sử bao đời, là trợ lực thiên nhiên hữu ích cho các nhà quân sự. Trong chiến tranh Trịnh Nguyễn, từ năm 1620 đến năm 1672, trong 52 năm giao tranh, quân Trịnh có 7 lần vượt sông Gianh, còn quân Nguyễn đã hai lần vượt sông Gianh chiếm bắc Bố Chính. Như vậy sông Gianh đã chịu 18 lượt xuất quân đi về của hai họ Trịnh, Nguyễn. Cuối cùng chẳng bên nào giành phần thắng phải lấy sông Gianh làm giới tuyến phân chia đất nước. Phía Bắc sông Gianh là đàng ngoài - Họ Trịnh; Phía Nam sông Gianh là đàng trong - Họ Nguyễn. Hai thế lực phong kiến Trịnh Nguyễn ra sức củng cố nền thống trị của mình và biến mỗi miền thành quốc gia riêng biệt. Năm 1786 Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn ra đánh chiếm Phú Xuân. Nguyễn Lữ chỉ huy đội thuỷ chiến tiến thẳng sông Gianh ngăn quân Trịnh từ Bắc vào, vừa ngăn chặn đón bắt quân Trịnh từ Phú Xuân ra. Nhân dân hai bờ Nam Bắc sông Gianh đón bắt tàn quân của tướng Trịnh ở Dinh Cát cùng quân Tây Sơn bắt hơn 200 quân cùng 3 voi chiến và tên chủ tướng là con rễ của chúa Trịnh. Ngày quân Tây Sơn vượt sông Gianh tiến ra Bắc, nhân dân Bố Trạch nói chung, nhân dân vùng Bắc Bố Trạch nói riêng đã huy động mọi phương tiện phục vụ cho ba vạn quân qua sông một cách an toàn. Chỉ trong mười ngày quân Tây Sơn đã đánh bại toàn bộ quân Trịnh ở Bắc Hà, thống nhất giang sơn. Đất nước thanh bình chưa được bao lâu thì Nguyễn Ánh rước Thực dân Pháp vào đánh đổ Tây Sơn, lập lại chế độ phong kiến thối nát. Năm 1858 hạm đội Á Đông của Pháp và Tây Ban Nha nổ súng đánh vào cửa biển Đà Nẳng. Năm 1884 với hoà ước bán nước Pa - Tơ - Nốt, thực dân Pháp đã hoàn toàn xâm chiếm nước ta; Sông Gianh - Quảng Bình lại sống những ngày đen tối lầm than. Năm 1885 sau khi Kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa Vua Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị và xuống chiếu Cần Vương kêu gọi các sĩ phu và nhân dân giúp Vua cứu nước. Sau đó vua Hàm Nghi đến vùng núi phía Tây Quảng Bình vùng thượng nguồn sông Gianh, xây dựng căn cứ địa kháng chiến chống Thực dân Pháp. Nhân dân Nam Bắc sông Gianh dưới sự lãnh đạo của tướng quân Lê Mô Khởi (quê Cao Lao Hạ) phò vua đánh Thực dân Pháp. Để chống lại phong trào Cần Vương, Thực dân Pháp ra sức lập căn bốt ở Thanh Hà và đồn Cốt Lầu ở đỉnh đèo Lý Hoà để khống chế kiểm soát vào ra trên đường quốc lộ IA. Thực dân Pháp tổ chức các cuộc hành quân vây ráp, truy bắt nghĩa quân Cần Vương ở Trại Nái (Ba Trại). ("Nong vàng không bằng sàng chữ") Xã cử nhân bên sông Gianh Sau khi phong trào Cần Vương ở thượng nguồn và hạ lưu sông Gianh thất bại; vào đầu thế kỷ XX phong trào cứu nước theo xu hướng tư sản do cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh sáng lập, được phát động mạnh mẽ trong cả nước. Năm 1903 trên đường đi vận động "Duy Tân hội" cụ Phan Bội Châu đã đến một số nơi trên huyện Bố Trạch và một số làng vùng Nam Bắc sông Gianh, Nam Bắc đèo Lý Hoà để vận động hưởng ứng phong trào Duy Tân. Cách mạng tháng 10 Nga thành công mở ra một thời đại mới cho lịch sử lòai người. Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Đông Dương ra đời đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần cách mạng của nhân dân vùng Nam Bắc sông Gianh từ thượng nguồn đến cuối nguồn. Sau 1930 một số tổ chức cơ sở Đảng ở Quảng Bình và vùng Nam bắc sông Gianh được hình thành. Phong trào đấu tranh đòi chia lại ruộng đất công, đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ đã nổ ra một số nơi trong tỉnh và trong huyện. Cờ đỏ búa liềm và truyền đơn ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh đã xuất hiện ở thị xã Đồng Hới và ga Thuận Lý. Bến phà Thanh Hà nơi cuối nguồn sông Gianh, một thời ranh giới đã chứng ki