Mùa xuân năm 1941, sau khi đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trước tình hình và vận mệnh của dân tộc, Người rất coi trọng và trực tiếp tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự cho cán bộ địa phương, chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tạo điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Đầu tháng 12 năm 1944, tại Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh đã triệu tập đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh đến để nghe báo cáo tình hình phong trào cách mạng trong ba tỉnh Cao - Bắc - Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích của liên tỉnh uỷ. Người chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Ngay chiều hôm sau, Người gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Quảng Ba để thông qua kế hoạch thành lập đội. Người thêm hai chữ "Tuyên truyền" vào tên đội Việt Nam giải phóng quân và dặn: "Nhớ bí mật: Ta ở đông, địch tưởng là ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình". Nửa tháng sau, lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi một bức thư (được đặt trong bao thuốc lá) cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đó là chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Chỉ thị gồm ba vấn đề chủ yếu: Một là, tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền, có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp vũ khí, nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (nay thuộc tỉnh Cao Bằng). Quân số ban đầu gồm 34 người (có 3 nữ), chia thành 3 tiểu đội. Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng, Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến, Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị, Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý. Vũ khí có 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp. Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân Trong "Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân" do Nguyễn Ái Quốc soạn có ghi 1. Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự... 2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm... 3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô hình. Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam". Sau khi thành lập đội đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Sau 2 trận này, quân số tăng lên thành đại đội, Hoàng Sâm làm đại đội trưởng, còn Xích Thắng làm chính trị viên. Đội đã tạo ra một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn ở Hòa An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Cạn)... Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chia thành nhiều mũi, có mũi thọc xuống phía nam đánh chiếm Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), có mũi tiến công Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn), lại có mũi ngược lên biên giới Việt - Trung hạ một loạt đồn trại từ Trùng Khánh đến Bảo Lạc rồi phát triển sang phía Hà Giang. Cuối tháng 3, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã gặp Cứu quốc quân ở Chợ Chu (Thái Nguyên). Bác Hồ Người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân Ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại Chợ Chu, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân hợp nhất với Cứu quốc quân và một số đơn vị du kích thành lực lượng quân sự thống nhất, lấy tên là Việt Nam giải phóng quân. Trong số 34 cán bộ, chiến sĩ của đội có 29 người là dân tộc thiểu số, cụ thể, dân tộc Tày: 19, dân tộc Nùng: 8, dân tộc Mông: 1, dân tộc Dao: 1; còn lại 5 người dân tộc Kinh. Nguyên tắc tổ chức lực lượng là sẽ chọn trong hàng ngũ du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực... Hai là, đối với các đội vũ trang địa phương. Tập trung các cán bộ đưa đi huấn luyện rồi đưa về huấn luyện ở các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến... Ba là, về chiến thuật: "vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô hình". Người khẳng định: "Tuy lúc đầu qui mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc vào Nam, khắp đất nước Việt Nam". Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Sam Cao (còn gọi là Trần Hưng Đạo) thuộc huyện Nguyên Bình - tỉnh Cao Bằng do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Đội gồm có 34 đội viên được biên chế thành trung đội gồm 3 tiểu đội với vũ khí hết sức thô sơ. Sau khi thành lập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp thường xuyên chỉ đạo và dành những tình cảm đặc biệt đến việc giáo dục rèn luyện và xây dựng lực lượng quân đội. Đặc biệt vào những ngày thành lập lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam hàng năm, Người đều viết thư động viên, khen ngợi những thành tích mà lực lượng Quân đội đạt được và đến thăm, dự mít tinh, chiêu đãi do Bộ Quốc phòng tổ chức. Ngày 22 tháng 12 năm 1949, nhân kỷ niệm 5 năm Ngày thành lập lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Người điểm lại quá trình phát triển của quân đội ta, từ nhóm du kích đầu tiên thành lập sau 5 năm đã trở thành một quân đội lớn mạnh. Những lời dặn dò của Bác Người chỉ rõ: "Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đ