Phan Huỳnh Điểu - Nhạc sĩ Tình yêu.

Trò chuyện với Phan Huỳnh Điểu, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát khen “ông là nhạc sĩ tình yêu”. Nhiều người viết lý luận âm nhạc cũng thích lời khen ấy dành cho ông. Theo nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, NSƯT Vũ Dậu, ca sĩ của Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam, có một thời gian dài, là “chuyên gia” hát tình ca của ông.

Nhạc sĩ Doãn Nho - Tiến sĩ nghệ thuật học, trong “Một thời kỳ hành khúc” đã viết: “Có thể dẫn chứng bằng 2 tác phẩm của Phan Huỳnh Điểu: Hành khúc ngày và đêm (thơ: Bùi Công Minh), Cuộc đời vẫn đẹp sao (thơ: Bùi Minh Quốc), là những hành khúc tâm tình nói về tình yêu lứa đôi. Tôi đã nhiều lần được nghe các bạn trai cũng như gái, ở trong nước hay đang theo học ở nước ngoài, say sưa hát những bài này. Hát đơn ca và hát tập thể. Nghe họ hát, tôi thầm cảm ơn tác giả đã mở một hướng mới, để tiếng nói hành khúc của chúng ta đi thẳng vào trái tim của những thế hệ tiếp theo”.

14 năm trước, trong lần kỷ niệm 70 năm ngày sinh (11-11), Phan Huỳnh Điểu đọc bài thơ nói về mình: Tuổi đã thất thập cổ lai hi/Nhưng mà gân cốt chẳng hề chi/Tiếc rằng cái tóc hơi bạc bạc/Còn thì mọi thứ vẫn y nguyên. Đến nay, trong giới văn nghệ sĩ có vài dị bản, tính chất hài hước, hóm hỉnh.

Trong hồi ký của mình, từ buổi ban đầu sáng tác, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu viết về tình yêu, giai điệu rất trữ tình. Ông nghĩ con người ai cũng yêu, hát được tình yêu ấy lên thì người ta sẽ gần nhau hơn. Có lẽ vì quan niệm này mà đề tài chiến đấu, kể cả với hành khúc, ông cũng diễn đạt bằng ca khúc tình yêu. Người yêu ca nhạc nhận biết, ngôn ngữ âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu đã làm nên sự rung động sâu sắc của trái tim con người với cuộc sống để từ đó họ hăng hái lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong tác phẩm, ông xử lý tài hoa điệu thức dân gian, dân tộc (xen kẽ điệu, pha màu âm, lối tiến hành giai điệu), sử dụng sinh động tính chất trữ tình của giọng điệu mà lý thuyết nhạc cổ điển Châu Âu cho là thứ (mềm mại, êm dịu), hòa hợp với tính chất trưởng (rắn rỏi, khỏe mạnh), chăm chút lời ca, sáng tạo những hành khúc trữ tình - hùng tráng. Theo dõi những chặng đường sáng tác của ông, nghe ca khúc Trầu cau viết vào đầu năm 1945, khi ông là hướng đạo sinh (trình diễn như ca cảnh trong đêm lửa trại), dễ nhận ra tính chất trữ tình của giai điệu tiếp thu từ dòng lãng mạn trong phong trào tân nhạc tiền chiến. Nối tiếp là Giải phóng quân ra đời trong Cách mạng Tháng Tám; rồi kêu gọi quyên góp cho Mùa đông binh sĩ với tấm lòng tha thiết, dịu hiền, Những người đã chết (thơ của Tế Hanh) nồng nàn, ngợi ca. Có thể vì yêu ca khúc của Văn Cao, tiếp nhận từ Đàn chim Việt, với ước mơ lãng mạn đương thời, ông viết Có một đàn chim (lời: Phan Quang Định), Điệu buồn (thơ: Huy Cận) - thể hiện rõ dần khuynh hướng sáng tác của ông: sâu lắng với niềm say mê tính chất trữ tình.

Vào giữa những năm 50, 60 của thế kỷ trước, sống và sáng tác ở Hà Nội, bên cạnh những ca khúc về đề tài lao động, sản xuất và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước, ông viết: Quê tôi miền Nam (1954), Liên khu V yêu dấu, Tình trong lá thiếp (1955), Miền Nam nguyện theo Đảng (1960), Những ánh sao đêm (1962), những bài này đều với giọng thứ nối mạch nhuần nhuyễn dòng trữ tình - hùng tráng, nổi bật cái riêng của giai điệu Phan Huỳnh Điểu. Từ mùa xuân năm 1965 đến giữa năm 1970, ở chiến trường Khu V, trên đất Tây Nguyên, với bút danh Huy Quang, ông viết Ra tiền tuyến, Khúc hát chia tay, Anh giao liên, Tiếng hát từ Đà Nẵng... Cuộc sống ở đây đã bồi đắp cho tâm hồn nhạc sĩ, mà theo như lời tâm sự của ông, là đã tìm lại chính mình, để khi trở ra miền Bắc, với bút pháp vững vàng, ca khúc càng trữ tình, thắm thiết. Về lại Hà Nội, sống giữa tổ ấm gia đình và những tấm lòng nhân hậu (của bạn bè, của những lương y tận tình đưa ông từ cõi chết về với cuộc đời) về với nơi mà từ giữa những năm 50 của thế kỷ trước, ông có điều kiện học tập nâng cao nghề nghiệp sáng tác, để hát tình yêu ấy lên, Phan Huỳnh Điểu hăng say viết, vì “chân thành yêu người, yêu đời và thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn”. Vì vậy, đất nước, dân tộc và người yêu ca nhạc có thêm những ca khúc của Phan Huỳnh Điểu: Bóng cây Kơ-nia (thơ: Ngọc Anh), Cuộc đời vẫn đẹp sao (từ bài thơ tình yêu của Dương H¬ương Ly tức Bùi Minh Quốc), Hành khúc ngày và đêm (từ bài thơ Ngày và đêm của Bùi Công Minh), Nhớ (thơ: Nông Quốc Chân), Anh ở đầu sông, em cuối sông (thơ: Hoài Vũ), Đêm nay anh ở đâu?, Sợi nhớ sợi thương (thơ: Thúy Bắc), Thơ tình cuối mùa thu (thơ: Xuân Quỳnh) v.v... Từ bài hát Giải phóng quân đi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giai điệu mềm mại - cái mềm mại không thể bẻ gãy được - rồi đi vào cuộc đấu tranh thống nhất, hành khúc của Phan Huỳnh Điểu vẫn gắn bó với tính chất trữ tình, đượm sắc màu giọng thứ, hòa hợp nhuần nhuyễn cái mới trong bản sắc dân tộc, dân gian, thể hiện một giai đoạn hào hùng của Tổ quốc.

Riêng đối với đất Quảng, với TP Đà Nẵng - nơi chôn nhau cắt rốn của ông, Phan Huỳnh Điểu cũng đã có những ca khúc dâng tặng, như: Quảng Nam yêu thương, Ơi, sông Hàn, Ngày... Đà Nẵng tôi xa (thơ: Hoàng Trọng Dũng), Đà Nẵng là nỗi nhớ, Tháng ba qua cầu sông Hàn,...
Phan Huỳnh Điểu thích tính tuổi theo âm lịch, “tuổi ta”, vì vậy ngày 11-11 tới đây, ông tròn 85 tuổi. Xin chúc nhạc sĩ thân yêu, người đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, thân tặng một vế thơ dị bản theo bài thơ của nhạc sĩ trong dịp mừng sinh nhật: Tuổi ngoài bát thập cổ lai hi/ Suy đi nghĩ lại, chẳng mất chi/Tóc ở trên đầu vài sợi bạc/ Tâm hồn - giọng thứ vẫn mê ly. Trương Đình Quang

ÂM NHẠC CỦA PHAN HUỲNH ĐIỂU CÓ GIAI ĐIỆU TRAU CHUỐT, TRỮ TÌNH

Ông sinh ngày 11 tháng 11, và cũng là người con thứ 11 trong một gia đình cha làm thợ may ở Đà Nẵng. Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1940 trong nhóm tân nhạc. Sau ca khúc đầu tay Trầu cau, sáng tác của ông được biết rộng rãi là bài Đoàn giải phóng quân viết cuối 1945. Một nhạc phẩm nổi tiếng khác của ông là Mùa đông binh sĩ được viết khoảng giữa thập niên 1940.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Phan Huỳnh Điểu gia nhập quân đội, công tác ở Liên khu 5. Thời gian này ông viết một số ca khúc như Nhớ ơn Hồ Chủ Tịch, Quê tôi ở miền Nam... Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, ông công tác ở Ban Nhạc vũ, Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành là Uỷ viên Thường vụ và công tác tại Hà Nội. Tháng 12 1964, Phan Huỳnh Điểu vào chiến trường Trung Trung Bộ ở trong Ban văn nghệ Khu. Thời gian đó ông viết bản hành khúc Ra tiền tuyến với bút danh Huy Quang. Sau 1975, Phan Huỳnh Điểu chuyển về Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh và sống ở đó. Ông đã sáng tác và công bố hơn 100 ca khúc, quá nửa trong số đó là các bài hát phổ thơ. Âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu có giai điệu trau chuốt, trữ tình, ngay cả trong trong thể loại hành khúc, như Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm. Phan Huỳnh Điểu còn có nhiều ca khúc về đề tài tình yêu thành công như Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Thuyền và biển...
ST

Bình luận (0)