PHAN ĐÔNG VIÊN Ngược dòng lịch sử: Triệu Đà xuất thân là quan nhà Tần bên Tầu. Năm 207 trước Công nguyên (TCN) đem quân đánh chiếm nước ta (lúc đó là nước Âu Lạc của Vua An Dương Vương) rồi sáp nhập vào nước Nam Việt (kéo dài từ Quảng Đông bên Tầu đến hết Âu Lạc). Triệu Đà tự xưng là Triệu Vũ Vương - Vua của nước Nam Việt. Sau đó Triệu Đà quy phục nhà Tây Hán. Nhà Triệu truyền ngôi được 5 đời, đến năm 111 TCN thì bị Nhà Tây Hán tiêu diệt. Nước ta bước vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, bị nhà Tây Hán đô hộ. Âu Lạc bị chia làm 3 quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ) Cửu Chân (Thanh Hóa) Nhật Nam (Nghệ An + Hà Tĩnh), mỗi quận có quan Thái thú cai trị, lại có quan Thứ sử để giám sát. Cùng với chế độ cai trị hà khắc là sự truyền bá phong tục, văn hóa, chữ viết... nhằm mục đích đồng hóa dân Âu Lạc. Những quan nhà Hán thay nhau sang cai trị nước ta, có kẻ thì cực kỳ khắc nghiệt tàn ác, nhưng cũng có người nhân đức lấy việc mở mang sản xuất và giáo dục, văn hóa là chính, điều này đã được lịch sử ghi nhận như trường hợp ông Tích Quang - Thái thú Quận Giao Chỉ thời Tây Hán, ông Nhâm Diên - Thái thú Quận Cửu Chân thời Đông Hán và đặc biệt là ông sĩ Nhiếp - Thái thú Quận Giao Chỉ cuối đời Đông Hán (từ 187 - 226 Công nguyên). 3 ông đó đã có công mở trường dậy chữ Hán. Hiện nay vẫn còn đền thờ ông Sĩ Nhiếp ở Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là di tích lịch sử của tỉnh, cổng đền có biển đề: NAM GIAO HỌC TỔ và HỮU CÔNG NHO GIÁO. Sau này cùng với sự đóng góp của Âu Lạc và các triều đại sau đã tiếp biển thành chữ Nho là loại chữ mà mặt chữ là chữ Hán, phát âm là tiếng việt, ngữ pháp là tiếng Hán, ví dụ: số 1,2,3,4: 一、二、三、四, thuần Hán thì phát âm là Yi, Èr, San, Sì, chữ Nho phát âm là: nhất, nhị, tam, tứ. Trời, đất, người 天、地、人,thuần Hán thì phát âm là Tiàn, De, Rén, chữ Nho phát âm là Thiên Địa Nhân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì theo ngữ pháp tiếng Hán, chữ Nho phải viết là 越南社會主義共和國, phát âm là Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa cộng hòa quốc. Nước ta đã dùng chữ Nho từ 3 thời kỳ Bắc thuộc. Sau khi ông Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, đến năm 1075 Công nguyên, để chọn người tài ra giúp nước, vua Lý Nhân Tông mới tổ chức kỳ thi Nho học đầu tiên. Để có thể đi thi trẻ con từ 6, 7 tuổi trở lên đã phải học thuộc lòng một số sách vỡ lòng chữ Nho như các quyển: Tam Tự Kinh, Tứ Tự Kinh, Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Sơ Học Vấn Tân... Lên lớp trên phải học các sách giáo khoa như: Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), Ngũ Kinh (Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh Xuân Thu) rồi đến các sách: Bách gia chư tử, Phật giáo, Đạo giáo... Để dậy được các sách này phải có một đội ngũ giáo viên là các thầy Đồ ở nhà riêng, ở trường làng, ở vùng địa phương gồm những người học giỏi tuy không đỗ đạt, cùng những quan lại nghỉ hưu, từ chức là những bậc túc Nho hoặc đại Nho như ông Chu Văn An (khi về Thanh Trì mở trường dạy học, được cả nước tôn xưng là Vạn Thế Sư Biểu - Thầy của vạn đời) ông Vũ Thạnh (khi trở về Hào Nam mở trường dạy học được toàn vùng tôn xưng là Thăng Long Sư Biểu (thầy của Thăng Long). Tầng lớp thầy Đồ (vừa là người đang dạy học, vừa là người đang học để đi thi) không những được tôn trọng mà còn là mơ ước của những cô thôn nữ trong ca dao: Chẳng tham ruộng cả, ao liền Tham vì cái bút cái nghiên anh Đồ trong tương lai nếu anh Đồ đỗ tiến sĩ thì niềm vinh dự còn đến với cả gia đình, họ tộc vì được vua thiết yến (mời tiệc) và ban thưởng: Vinh quy bái tổ vẻ vang Võng anh đi trước, võng nàng theo sau rồi bổ dụng làm quan to. Các khoa thi Nho học: Về hình thức: Trường thi là một bãi đất rộng, mỗi thí sinh phải tự mang theo lều chõng, sắp xếp trật tự hàng lối theo lệnh quan trường, các chõng cách nhau một lối đi để các quan trường kiểm soát, thí sinh viết bài thì ngồi hoặc nằm trên chõng, che nắng mưa và sự bí mật của bài thi bằng lều lắp trên chõng. Về nội dung: Có 3 khoa thi: 1/ Thi HƯƠNG : Quy mô ở các tỉnh hay liên tỉnh, ở miền Bắc có 2 trường thi nổi tiếng là Hà Nội và Nam Định, gồm 4 vòng thi: - Vòng 1: thi môn Kinh nghĩa - Vòng 2: thi môn Chiếu, Biểu - Vòng 3: thi sáng tác thơ phú - Vòng 4: thi môn Văn sách , viết Tự luận Nếu đạt cả 4 vòng thì đỗ Cử nhân Nếu chỉ đạt 3 vòng thì đỗ Tú tài Những người đỗ Tú tài rồi mà thi lần 2 vẫn chỉ đỗ Tú tài thì gọi là Tú Kép, thi lần 3 trở lên vẫn chỉ đỗ Tú tài thì gọi là Tú đụp (vá chằng vá đụp) 2/ Thi HỘI : Quy mô quốc gia, thí sinh phải là những người đã đỗ Cử nhân. Nếu đạt trúng cách thì đỗ Tiến sĩ Nếu đạt Thứ trúng cách thì đỗ Phó bảng Đỗ thủ khoa tiến sĩ gọi là đỗ Hội nguyên 3/ Thi ĐÌNH : Quy mô quốc gia cao nhất, thí sinh phải là những người đã đỗ Tiến sĩ. Gọi là thi Đình vì tổ chức thi ngay tại sân Triều đình, do Vua ra đề và chấm bài, mục đích là để xếp hạng Tiến sĩ: hạng nhất gọi là Trạng nguyên, thủ khoa gọi là Đình nguyên. Kể từ khoa thi đầu tiên năm 1075 thời vua Nhân Tông nhà Lý đến khoa thi Hội cuối cùng năm 1919 thời vua Khải Định nhà Nguyễn, trong 844 năm có tất cả 185 khoa thi, những vị đỗ Cử nhân mới được bổ làm Tri Huyện (chủ tịch huyện nhỏ), Tri Phủ (chủ tịch huyện lớn). Đỗ Tiến sĩ mới được bổ làm Tuần phủ (Chủ tịch tỉnh nhỏ) hoặc Tổng đốc (Chủ tịch tỉnh lớn), các vị Tiến sĩ, Hội nguyên hoặc Đình nguyên mới được bổ làm quan lớn trong triều và khắc tên trên bia đá trong Văn Miếu. Chữ Hán hoặc chữ Nho là chữ tượng hình nhiều nét có chữ đến 30 nét, rất phức tạp , học chữ nào biết chữ đó, một chữ có nhiều nghĩa, nhiều chữ phát âm giống nhau. Ở Trung Quốc ngày nay, một người được coi là thoát nạn mù chữ phải biết và nhớ được 3.300 chữ, thế mà chỉ trong khoa thi Hương, đề thi ý nghĩa cao xa thì muốn làm một bài văn sách, thí sinh ít nhất phải nhớ được 6.000 hoặc 7.000 chữ, ở các khoa thi Hội, thi Đình còn phải nhớ nhiều chữ hơn, thế mới biết trí nhớ của các cụ ta xưa thật là siêu phàm, đáng kính phục và ngưỡng mộ, cho nên đối với các vị khoa bảng xưa, xã hội đều gọi là các vị Túc Nho hoặc Đại Nho (Túc là đủ, Đại là lớn). Từ thế kỷ 15, 16 việc truyền đạo Thiên Chúa đã la