Lê Dung về Trời, tiếng hát mãi còn xanh - Tiếng hát Lê Dung còn ở lại, còn xanh vĩnh viễn với thời gian. Với không gian Hà Nội, với tấm lòng người Việt đầy nhớ nhung ân tình, dù chúng ta đang phải sống căng thẳng, bận rộn, âu lo ngay từ đầu thế kỉ 21 đầy biến động, cũng đầy thách thức khôn lường này… Tôi từng nghĩ ngợi lan man thế, khi chầm chậm cùng bạn bè tiễn biệt, nhìn Lê Dung lần cuối trong một ngày tết Nguyên Đán Tân Tị 2001 tại Nhà tang lễ Quân y viện 108, kề cận sông Hồng. Tiếng hát Lê Dung từ đĩa CD bỗng từ đâu bồi hồi xao xuyến vọng về. Giọng nữ cao thánh thót, trong vắt như suối nguồn thiên thai chảy từ Đào Nguyên, run rấy non mảnh như tơ chùng phím loan…Không biết ai đó đã làm được cử chỉ quá lạ lùng: đặt vào máy những CD của Dung, phóng thanh tiếng hát Lê Dung trong suốt lễ tang người đàn bà hát này, vào chính ngày tang lễ của mình? Đâu rồi những chàng Kim Trọng, Từ Hải của Dung, từng “vò chín khúc” , từng “chau đôi mày” , cúi đầu nghe Dung hát trong khán phòng sang trọng Hà Nội, Moscow, Paris, Budapes, Bình Nhưỡng, Sài Gòn… hay trong nhóm nhỏ bạn bè ở cuộc vui nào đấy, trên chiếu rượu thân mật như nghe đào nương đất Thăng Long-Hà Nội lảnh lót đa đoan hát ca trù? Tiếng hát Lê Dung đằm thắm, quấn quyện đa tình, nội lực thăm thẳm, đang tỏa lan, ngân rung run rấy không dứt trong đám tang mình. Tôi bỗng nghĩ, dường như Dung cô đơn ngay cả khi nằm trong áo quan, dung nhan còn hồng tươi đầy ham muốn sống, ham muốn hát, ham muốn yêu. Nhưng lúc ấy, Dung chỉ còn chính tiếng hát của mình và cái chết. ( Lê Dung và nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài). Cả một giờ đồng hồ đưa đám, tôi đã nghe Dung hát mãi trong tang lễ mình, thân thương, thân mến như sinh thời, Dung thường hát mê đắm hết bài này bài khác cho bạn bè, khi chúng tôi quây quần tụ họp ở nước Nga xa xứ những mùa lễ tết. Tiếng hát ấy, giờ đây, như nhất định nấn ná, nhất quyết không chịu buông bỏ dương thế, nhất định quanh quẩn trong đám đông bạn hữu, người thân, đang cúi đầu chầm chậm viếng người đàn bà hát, mà hôm nay, số phận buộc phải bay về trời vĩnh viễn. Nhưng không hiểu sao, người đàn bà sinh ra để hát ấy vẫn bướng bỉnh quyến luyến cõi trần ai tục lụy, đầy đớn đau khắc khoải này, hệt như quyến luyến người đàn ông mình yêu mà không nỡ dứt áo ra đi, chỉ muốn níu lại bằng tiếng hát. Lê Dung, có lẽ từng trải, như ai ai cũng đã từng cảm giác: đã sinh ra ở đời, sự sống và sự chết đều không tránh khỏi. Có lẽ vì thế mà Dung đã sống, đã hát, đã yêu hết mình, để khi bất chợt (ai học được chữ ngờ), về cõi khác, đã để lại niềm thương tiếc, niềm yêu đương và nhất là để lại những bài hát còn xanh mãi. Bởi Dung đã hát bằng hồn cốt của cả đời mình cho người sống cùng thời của mình trên dương thế. Trong đám tang Dung, có lẽ ai cũng nhớ, cũng tri ân Dung mà rưng lệ, giữ cho mình mảnh kí ức về giọng ca vàng Lê Dung, để giọng ca ấy còn ngân nga mãi trong trái tim mình, kể cả khi những nhạc sĩ sáng tác bài cho Dung hát, đều đã gần như lần lượt về… cõi khác. Hát hết sức đắm say và yêu cực kỳ đắm đuối là hai mặt thống nhất trong tính cách người-đàn-bà-sinh-ra-để-hát-để-yêu: Lê Dung …Chúng tôi nhận nhau chị em, chỉ từ khi tôi sang Nga du học cuối năm Bính Dần 1986, sau Dung mấy tháng. Trước đó, còn ở Hà Nội, dù biết nhau, dù Dung đã làm lễ nhận con nuôi-môn sinh nghề hát của bác ruột tôi: NSND Thương Huyền từ nhiều năm trước, Dung từ vùng than Quảng Ninh về Hà Nội lập nghiệp hát và dần dà nổi tiếng, nhưng tôi vẫn không thích tính cách Lê Dung. Tôi cho Dung là phụ nữ ngạo mạn, cậy mình hát hay, tự cho mình cái quyền nhìn người bằng nửa con mắt, như thể “mục hạ vô nhân”. Thêm nữa, trước khi thực tập ở Nhạc viện Traicovxki, từ Hà Nội, Dung đã cao hứng tuyên bố: Khỏi mua vé khứ hồi, chắc tôi không về! Vì thế, lẽ ra phải được du học Nga từ cuối 1985, song chỉ vì lỡ miệng, mà Dung phải ở lại Hà Nội một năm, để chứng tỏ mình là sĩ quan quân đội, hàm cấp tá, chẳng qua chỉ “nói đùa cho vui” , rồi mới được Bộ Văn hóa-Thông tin tái cử đi học vào mùa thu 1986 ở Matxcova. Tôi sang sau Dung, đi thẳng tàu hỏa xuống nhập học năm thứ nhất nghiên cứu sinh ở Viện đại học Âm nhạc-Sân khấu-Điện ảnh Lêningrag,(nay là St-Peterburg). Sau một năm, khi có việc sang Pragua, Tiệp Khắc, tình cờ gặp Dung ở Sứ quán Việt Nam tại Matxcova, chúng tôi mới thành chị em. Đó là nhờ bác tôi, Thương Huyền, truyền qua chị Ngọc Minh, con gái thứ của bác, ca sĩ Dàn Nhạc Giao hưởng hợp xướng Việt Nam, chị họ tôi. (Bố tôi, ca sĩ Văn Hanh là em trai ruột, sau bác Huyền một đốt. Hai chị em cả đời hát ở Đoàn Ca nhạc Đài TNVN). Chị tôi dặn dò cả Dung lẫn tôi trước khi du học: Hai đứa phải là chị em. Phận số đã bảo như thế. Bác và chị đều muốn các em thương mến nhau, giúp nhau học ở nước Nga cho thành tài! Gặp nhau ở sứ quán Việt, phố Abalenxki, Matxcova, trong phòng Quản lý lưu học sinh, cùng nhớ lời bác Thương Huyền, hai chị em thân quý nhau ngay. Tôi nhớ khi đó, Dung gọi tôi bằng chị, cư xử rất niềm nở dịu nhẹ và nhanh nhảu sống động. Dáng người thanh mảnh. Váy dạ đen, áo len xanh dương bó sát, rất mốt, tóc cài nơ duyên dáng, giọng ngọt ngào, Dung đưa tôi về kí túc xá Nhạc viện Traicovxki và ngay đêm đó đã mời bè bạn đến nghe Dung hát cho chị , là tôi đấy, đỡ nhớ Hà Nội và nhớ con . Dung hát dứt bài “ Đêm đông ”, mọi người lặng đi. Mắt Dung chợt xa vắng, nghiêng vào tai tôi, thì thào bỏ nhỏ: Em đang nhớ thằng cu Tý xót ruột xót gan đây! Vẻ cứng cỏi, hơi ngạo mạn vậy thôi, thực tình, Dung là người mong manh, dễ mủi lòng, rơi lệ. (Cắt nghĩa tính mình đa cảm, hay tủi thân ngầm, Dung bảo: em phận vợ lẽ con thêm.) Bố Dung là ông cai Lỳ mỏ than Quảng Ninh, mẹ Dung lẽ mọn, chỉ độc nhất con gái Lê Dung. Bố chết, Dung chỉ còn mẹ già ở Hà Nội, nhà một chị bạn kết nghĩa, nghệ sĩ chèo, trông nom dùm). Ra đường nhanh như sóc, miệng nói tay làm, khéo ăn khéo nói, duyên dáng mặn mà, lúc nào Dung cũng có vài đàn ông mộ điệu theo sau. Rồi Dung cũng phải lòng một người hơn Dung vài tuổi, chín chắn, chu đáo, yêu thương lo lắng cho Dung như huynh trưởng trong nhà. Dung bảo, bây giờ em chỉ có thể nương tựa vào người như