“Khi cái riêng đạt tới sự chân thành dâng hiến hết mình cho nghĩa lớn như Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc thì con người ở một thời mà đến được với mọi thời” (Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải." Nguyễn Văn Thạc Trước và sau đêm giao lưu: “Ngã Ba Đồng Lộc khúc tráng ca bất tử” do T.Ư Đoàn và UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức; nơi đây mỗi ngày đón tiếp hàng ngàn lượt khách về dâng hương tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Sáng 15/7, tại vị trí đặt tấm bia khắc dòng lưu bút của tác giả “Mãi mãi tuổi hai mươi”: “Kính chào hậu phương, chào gia đình và người tôi yêu. Đêm nay tôi đi. Nhất định có ngày trở về Thủ đô yêu dấu của lòng tôi. Ngã Ba Đồng Lộc - 3/6/1972 Nguyễn Văn Thạc”. Một người phụ nữ trung niên, vóc dáng sang trọng, gương mặt đượm buồn, đôi mắt sáng ngấn lệ, trên tay cầm đóa hoa mua tím, chăm chú nhìn vào những dòng trên tấm bia. Chị khóc, đôi vai tròn đầy rung lên theo tiếng nấc nghẹn ngào giữa vòng vây của mọi người lặng lẽ. Người phụ nữ ấy là Phạm Thị Như Anh, người yêu của anh Nguyễn Văn Thạc mà nhiều bạn đọc đã được biết đến qua cuốn nhật ký: “Mãi mãi tuổi hai mươi”. Ngày ấy cách đây 35 năm, Nguyễn Văn Thạc lên đường hành quân vào chiến trường, đứng ở Ngã Ba Đồng Lộc đã ghi lại những lời nói trên. Nơi ấy, giờ đây đã trở thành Khu tưởng niệm những tấm gương nghĩa liệt của thế hệ trẻ Việt Nam hy sinh vì Tổ quốc. Chị Như Anh còn đi vào Quảng Trị thăm lại mảnh đất tại thôn Đầu Kênh, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong nơi anh Nguyễn Văn Thạc đã chiến đấu và hy sinh ngày 30/7/1972. Ở Quảng Trị ra, chị đã ghé vào Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh gặp mặt và giao lưu với tuổi trẻ quê hương Lý Tự Trọng. Từ cuộc gặp mặt này, chúng tôi biết thêm bao điều kỳ lạ về đôi trai gái tài - sắc... Một quyết định khó khăn Gần 800 trang sách nhật ký Thư và Thơ của hai người viết trong vòng hơn 2 năm thời ấy, mà Như Anh còn lưu giữ, nay in thành sách với tên gọi: “Hạnh phúc là gì?” cộng với gần 300 trang “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc. Tất cả trên ngàn trang viết của đôi bạn trẻ chứa đựng bao điều kỳ lạ. Trước khi quyết định công bố hơn nghìn trang thư này, chị Như Anh rất băn khoăn. Người anh trai của chị đã viết thư động viên: “Quyển sách này theo anh nó chẳng phải nhu cầu của em, của Thạc, chẳng phải là ảo ảnh hư vinh. Phạm Như Anh Nó là nhu cầu của lớp người tuổi hai mươi ngày ấy, cha, chú, mẹ, cô, chúng mình, của cả những lớp người tuổi 20 hiện tại trên đất nước Việt Nam này. Hãy gạt bỏ những suy tư quanh dự định ra đời cuốn sách này. Hãy dũng cảm lên em, dũng cảm như Thạc đã từng dũng cảm…”. Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng có lời động viên: “Thạc sẽ rất hài lòng vì những gì Thạc viết đều có ý nghĩa cho tuổi trẻ, em hãy hy sinh phần riêng của mình để công bố tập thư ấy cho cả dân tộc được biết và tự hào về những thanh niên của mình họ đã sống, đã yêu, đã học tập, chiến đấu và hy sinh như thế đấy”. Và còn bao lời động viên khác của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Đại tướng Chu Huy Mân, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị, Phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp .v.v... Chúng tôi là lớp người cùng thời, đọc cả ngàn trang Thư và Thơ của Thạc và Như Anh, trang nào cũng cảm động rơi nước mắt. Khi cái riêng đã đạt đến sự chân thành dâng hiến cho nghĩa lớn Hồi ấy hàng vạn đôi lứa yêu nhau. Người con trai cầm súng ra trận, người con gái ở lại hậu phương hoặc lên đường xa Tổ quốc sang nước bạn học tập để sau này về xây dựng đất nước. Mấy ai ghi và để lại được cả ngàn trang sách nói chuyện riêng tư và cũng chính là những khát vọng chung cho một lớp người, của một thế hệ: “Khi cái riêng đạt tới sự chân thành dâng hiến hết mình cho nghĩa lớn như Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc thì con người ở một thời mà đến được với mọi thời” (lời của Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải). Trong thư ngày 3/3/1971 Nguyễn Văn Thạc viết khi Như Anh chuẩn bị bước vào kỳ thi học sinh giỏi miền Bắc: “Điều quan trọng nhất là Tổ quốc- Thật thế. Mình không chính trị tí nào. Tổ quốc gọi chúng mình và nhiệm vụ của Như Anh là phải vượt lên, vượt xa những kết quả sáng tạo mà bọn mình đã làm nên”. Thư ngày 14/3/1971, Như Anh đáp lại: “Thạc có biết không, có dịp...… chút nữa thì Như Anh đã trở thành nghệ sỹ chuyên nghiệp Pianô...… nhưng không, mình biết khả năng và Tổ quốc đòi hỏi mình nhiều hơn thế”. Thư ngày 1/4 Thạc bộc bạch: “Thạc yêu văn học đến mức như máu thịt… nhưng niềm vui đích thực của Thạc là thế giới khoa học tự nhiên. Thạc không muốn con người Việt Nam cứ phải tiếp thu kiến thức của 100 năm trước mà muốn mình làm được những điều lớn lao hơn rất nhiều. Thạc nói Như Anh giỏi, giỏi lắm là đúng. Đó là sự thật hiển nhiên nhưng bạn chẳng chịu nhận đâu. Như Anh là thế. Thạc đã gặp các em lớp Toán đặc biệt. Trần Ngọc Duyệt - một bạn nữ nhanh nhẹn và thông minh đã được giải 3 Toán miền Bắc. Nguyễn Lê Anh giải nhất Toán miền Bắc 1970. Duyệt và Lê Anh chỉ giỏi Toán còn Như Anh thì có thể học bất cứ ngành nào khi Tổ quốc cần...” Thư ngày 14/4 của Như Anh gửi Thạc: “Gặp Thạc, Như Anh sung sướng vô ngần và nghĩ rằng có lẽ mình đã gặp được một con người toàn vẹn như mơ ước, nể phục và kính yêu...…còn ước mơ... thì… Thạc hiểu quá rồi... Thạc là của báu vô ngần, niềm tự hào sâu kín nhất, nguồn động viên an ủi tuyệt vời nhất và nỗi nhớ da diết của Như Anh”. Trong thư viết ngày 30/4/1971 dài ngót 3.000 chữ, Thạc đã linh cảm được những gì của ngày 30/4/1975 lịch sử: “4 năm nữa biết bao sự kiện đã xảy ra thì Như Anh và Thạc đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975 dù chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết cho nhau dòng chữ “Hạnh phúc là thế nào nhé”. Lá thư bị thất lạc 33 năm của Nguyễn Văn Thạc “Thạc đang sống với những ngày cháy cả ruột gan...… dù làm gì ở đâu Thạc và Như Anh cũng phải vươn lên đứng ở hàng đầu, Như Anh luôn là người xuất sắc rồi. Còn Thạc thú thật có những con chim Ưng có cánh khỏe và mạnh, Thạc phải vã mồ hôi mới bám kịp đuôi... Chỉ còn mấy hôm nữa là Thạc sẽ đi xa...”. (Thư Thạc ngày 4/7). Tháng 7 là tháng đặc biệt trong cuộc đời Thạc và Như Anh. Họ cũng đã viết cho nhau hàng trăm tran