PHAN ĐÔNG VIÊN "Hỡi đồng bào ! Chúng ta phải đứng lên ! Bất kỳ đàn ông đàn bà, Bất kỳ người già người trẻ Không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc" (Trích lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch) Với lòng yêu nước nồng nàn, truyền thống quật cường bất khuất, sự gắn kết dân tộc khi Tổ quốc lâm nguy, toàn thể nhân dân Việt Nam đã hưởng ứng và tích cực thực hiện lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Trong suốt 2 cuộc kháng chiến và sau này là chiến tranh biên giới, hàng triệu người Việt Nam-cả chiến sĩ và dân thường-đã không tiếc máu xương, quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam. Trong sự hy sinh to lớn ấy, chúng ta không thể quên những liệt sĩ, anh hùng tuổi thiếu niên mà thời kỳ nào cũng có những tấm gương sáng chói chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xứng đáng để tuổi trẻ hậu thế noi theo: TT Họ và tên Tuổi lúc hy sinh 1 Lưu Quý An 13 2 Võ Văn Bảo 14 3 Trần Văn Chẩm 15 4 Nông Văn Dền (Kim Đồng) 14 5 Vừ A Dính 15 6 Phạm Ngọc Đa 15 7 Nguyễn Văn Đức 15 8 Nguyễn Văn Kiến 13 9 Nguyễn Đăng Lành 14 10 Dương Văn Mạnh 14 11 Trần Hoàng Na 13 12 Nguyễn Bá Ngọc 13 13 Hồ Văn Nhánh 13 14 Dương Văn Nội 15 15 Võ Phước 14 16 Hoàng Văn Thọ 15 17 Quách Thị Trang 15 18 Nguyễn Minh Trung 15 Bảng danh sách có thể chưa đủ nhưng tất cả trong số này đều được Nhà nước công nhận là liệt sĩ, trong đó có 17 thiếu niên trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu được truy phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và 1 thiếu niên liệt sĩ là Quách Thị Trang. Sự tích của các liệt sĩ anh hùng tuổi thiếu niên đều đã được truyền tụng trên báo, đài, sách, truyện, phim ảnh và âm nhạc. Nhân kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sĩ xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc về liệt sĩ học sinh Quách Thị Trang trong một giai đoạn biến cố của xã hội miền Nam Việt Nam: EM LÀ VÌ SAO SÁNG Cuối năm 1955, tuy đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại để lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, nhưng vì quyền lợi riêng của tập đoàn gia đình trị, Ngô Đình Diệm vẫn giữ Đạo dụ số 10 của Bảo Đại coi Thiên chúa giáo là tôn giáo chính thống độc tôn, còn tất cả các tôn giáo khác đều chỉ được coi như những Hiệp hội (như Hiệp hội lúa gạo, Hiệp hội bóng đá…) Điều này đã gây bất bình cho tất cả các tôn giáo ở miền Nam, nhiều kiến nghị của các chức sắc tôn giáo (ngoài Thiên chúa giáo) đã gửi tới chính quyền để phản đối và đòi hủy Đạo dụ bất bình đẳng tôn giáo này, nhưng đều không được đáp ứng. Trong khi đó, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (là anh ruột Ngô Đình Diệm) thì được toàn quyền tự do truyền đạo, phát triển giáo dân, trùng tu xây cất nhà thờ và tổ chức các hoạt động mục vụ khác. Tuy không trực tiếp cầm quyền và không tuyên bố Thiên chúa giáo là quốc đạo, nhưng mọi tư tưởng, chủ trương, hành xử của Ngô Đình Thục đều có tác dụng chỉ đạo chính quyền Ngô Đình Diệm phải thực hiện, như việc vận động dụ dỗ, cưỡng ép công chức chính quyền, sĩ quan quân đội muốn được thăng tiến, con cái được trợ cấp học hành, gia đình được tạo thuận lợi trong việc làm ăn buôn bán thì đều phải nhập đạo hoặc cải đạo để theo đạo Thiên chúa. Để mong được Tòa thánh Vatican phong làm Hồng y giáo chủ đầu tiên của Việt Nam, Ngô Đình Thục đã có dự án biến 1/3 dân số miền Nam thành con chiên của Chúa v.v… Vì vậy mâu thuẫn tôn giáo vốn đã âm ỉ nhiều năm, đến năm 1963 càng ngày càng thêm sâu sắc, mà đỉnh cao của mâu thuẫn tôn giáo là sự kiện cấm treo cờ Phật giáo và xé cờ Phật giáo ngay trước ngày Phật đản 1963. Đầu tháng 5/1963 Ngô Đình Diệm tổ chức tại Huế lễ Ngân khánh cho Ngô Đình Thục (kỷ niệm 25 năm Ngô Đình Thục được phong Giám mục), thời kỳ đó Ngô Đình Thục là Tổng Giám mục Giáo phận Huế nên ngày 4/5/1963 Ngô Đình Thục ra Huế rồi đi thăm nhà thờ La Vang Quảng Trị, trên đường đi Ngô Đình Thục thấy đâu đâu cũng treo cờ Phật, nhất là ở Huế (bởi Huế là trung tâm Phật giáo lớn nhất miền Nam) Phật tử đang trang trí đặt panô, treo băngđrôn, cờ Phật để 4 ngày nữa đón lễ Phật đản. Không thấy treo cờ Chúa để chào mừng ngày lễ Ngân khánh của mình, Ngô Đình Thục đã phàn nàn việc này với Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn, Ngô Đình Diệm ra lệnh khẩn cho em ruột là Cố vấn miền Trung Ngô Đình Cẩn và Tỉnh trưởng Thừa Thiên có biện pháp giải quyết, ngay lập tức binh lính, cảnh sát và dân vệ chính quyền Huế đã đến từng nhà Phật tử yêu cầu không được treo cờ Phật, tất cả cờ và các hình thức trang trí đều bị hạ xuống hoặc xé bỏ, ai phản đối là bị đánh đập bắt bớ, khiến toàn bộ thành phố Huế cả Phật tử và dân thường đều phẫn nộ, tập hợp thành nhiều đám đông biểu tình khắp thành phố kéo dài đến ngày Phật đản 8/5/1963. Theo lệ thường trong ngày Phật đản hàng năm, toàn bộ Phật tử Huế được nghe bài diễn văn của lãnh đạo Hội Phật giáo Huế, nhưng tối 8/5 không thấy Đài phát thanh Huế phát bài diễn văn (đã được thu âm trước), 6000 Phật tử đã kéo đến Đài chất vấn thì được trả lời là do lỗi kỹ thuật, Phật tử không tin và giận dữ tràn vào sân Đài phát thanh Huế, Tỉnh trưởng Huế ra lệnh cho xe thiết giáp dàn ra cản đường, trong lúc xô xát, thiết giáp đã bắn nát đầu 7 thiếu nhi Huế. Sự kiện tàn sát dân thường của chính quyền Huế đã đẩy sự phẫn nộ lên cao trào và lan ra khắp cả nước, các cuộc biểu tỉnh liên tục khắp các tỉnh miền Nam, nhất là Sài Gòn. Do Phật tử Sài Gòn ủng hộ Phật tử Huế và phản đối bất bình đẳng tôn giáo cũng như việc đàn áp, bắt bớ, đánh đập, giết dân lành và người tu hành, cảnh sát Sài Gòn đã phong tỏa, tấn công tất cả các chùa trong thành phố. Các cuộc biểu tình liên tục, kéo dài không chỉ có Phật tử mà còn thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, không phải chỉ là ủng hộ Phật giáo mà chính là lòng dân đã chán ghét chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô. Báo chí miền Nam Việt Nam và quốc tế gọi đây là sự biến Phật giáo. Để phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo, đàn áp, giết hại Phật tử, ngày 11/6/1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu. Ngay ngày hôm sau hình ảnh và phim Hòa thượng tự thiêu đã được các phóng viên nước ngoài đưa lên tất cả các phương tiện thôn