Chân dung và bút tích của Nhạc sĩ Huỳnh Thơ Nhạc sỹ Huỳnh Thơ (Tên thật là Ngô Văn Thi). Anh sinh năm 1936 ở thị trấn Nhà Bè, Sài Gòn. Anh vào bộ đội thời kỳ chống Pháp trong phong trào Trần Văn Ơn của học sinh - sinh viên miền Nam. Huỳnh Thơ yêu thích âm nhạc từ bé. Năm 1954 anh tập kết ra Bắc. Mấy năm sau, nhà nước có chủ trương đưa bộ đội đi xây dựng, thành lập các nông trường quân đội, do Cục Nông binh (sau đổi thành Bộ Nông trường) quản lý. Huỳnh Thơ là một trong những người đầu tiên tham gia thành lập Nông trường Lam Sơn - Thanh Hóa. Sau đó Nông trường chọn cử anh đi học trường Trung cấp Nông lâm Trung ương (đóng ở Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội). Khóa học chúng tôi bấy giờ đa phần là học sinh phổ thông đồng trang lứa, ở hầu khắp các tỉnh miền Bắc. Số còn lại là Bộ đội giải ngũ, đa số là Bộ đội miền Nam tập kết. Lúc đó Huỳnh Thơ đã là Đảng viên. Học Nông lâm, cái nghề chuyên bùn đất, sâu bọ… mà tâm hồn thì bay bổng những âm thanh! Không khí học hành thật sôi nổi chúng tôi không chỉ say mê trong chuyên môn mà sinh hoạt văn nghệ cũng đầy ấn tượng. Những cuốn sách văn học Nga như “Thép đã tôi thế đấy”, “Sông Đông êm đềm”, “Đất vỡ hoang” được chúng tôi truyền tay nhau đọc đến nhàu nát. Tình yêu của Paven Coocsaghin (nhân vật trong “Thép đã tôi thế đây”) thời trai trẻ với Tonhia, Rita, Thaia thật lãng mạn và đầy sức chiến đấu. Phim màn ảnh rộng chiếu đều đặn vào tối thứ 3 hàng tuần, giữa sân trường rộng rãi, giọng thuyết minh ngọt ngào cùa cô giáo Trâm, học sinh Đào Toán nhớ mãi đến giờ. (NSND Thu Hiền với ca khúc Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long) Những ngày cuối năm bao giờ Nhà trường cũng tổ chức cho học sinh đi thực tập tận các Nông trường Tây Hiếu, Sông Con – Nghệ An hay lên trại chè Phú Hộ, luyện tay nghề chiết ghép, bón chăm. Chúng tôi nhớ mãi hình ảnh hoa cà phê, hoa cam nở trắng rừng, hương chè thơm ngào ngạt lưng đồi Phú Thọ. Đường xá xa xôi là vậy, trên phương tiện chỉ là những chiếc xe tải mui trần, ghế nan, đứng ngồi mà say sưa ca hát… Trước mỗi buổi học bao giờ thầy cô giáo cũng giành mươi phút văn nghệ cá nhân. Các lớp, các khối, nhà trường đều có đội văn nghệ biểu diễn, hát thi vào dịp cuối kỳ, cuối năm, cuối khóa thường những bài hát mang đầy màu sắc thiên nhiên đất trời, hoa lá đẹp và thơ mộng. Ngoài những bài hát tình ca “Chiều Mascova”, “Đôi Bờ” của Nga, chúng tôi ra những bài hát Việt, lời ca, âm sắc in vọng mãi đến giờ.“ Nắng vàng vừa xuống, rừng dừa in bóng lưng lương/Hoàng hôn nắng vàng tỏa xuống Nông trường tít trên trời màu lúa chín đưa hương …”. Màu vàng của lúa, của nắng; màu xanh của biển, của rừng cất lên thành lời ca trộn trong thao thiết tiếng đàn. Những bài hát mang đầy âm sắc đồng quê ấy do Huỳnh Thơ uốn luyện. Đêm đêm đến giờ “giới nghiêm”, Huỳnh Thơ còn ôm cây đàn Violong ra cột điện xa nơi ký túc, ò e cho mãi tới khuya, như ru, như rót văng vẳng vào khu chúng tôi ngủ. Qua nhiều đêm như vậy, Huỳnh Thơ viện cớ lúc thì bảo đang luyện bài cho đội văn nghệ nhà trường chuẩn bị hội diễn, lúc lại bảo chuẩn bị về Hà Nội hội thi, nên bảo vệ cũng cho qua. Lâu dần thành quen, đêm nào vắng tiếng đàn ru, lại nhớ! Đội văn nghệ chúng tôi từng có lần được lên biểu diễn tại sân khấu sang trọng, dưới ánh đèn điện lung linh của Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi hát thi và được giải. "Nhịp cầu tre lắt lẻo dòng kênh, in dáng hình người con gái quê tôi." Học với Huỳnh Thơ 3 năm, giữa chúng tôi có bao nhiêu kỷ niệm và thơ mộng. Ra trường Huỳnh Thơ về Nông trường Sông Bôi (Hòa Bình), làm chuyên môn thì ít văn nghệ thì nhiều. Một dịp tình cờ, Huỳnh Thơ được gặp nhạc sỹ Lưu Hữu Phước. Biết Huỳnh Thơ yêu nhạc và hé lộ năng khếu nhạc sỹ đàn anh đã giới thiệu Huỳnh Thơ vào học Khoa sáng tác Nhạc viện Hà Nội. Bấy giờ khoảng năm 1968-1970. Ngoài việc học hành Huỳnh Thơ còn được Nhạc viên cử đi thực tế tìm “những giọng hát hay ” ở Hải Phòng và một số tỉnh đồng bằng sông Hồng đưa về cho Nhạc viện bổ sung cho chương trình giảng dạy thêm phong phú. Những lời ca, tiếng hát ấy còn được phát trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình văn nghệ “khắp nơi ca hát” ngày càng được nhiều người ưa thích. Sau khi học xong ở Nhạc viện, Huỳnh Thơ về công tác tại Ban văn nghệ Đài phát thanh giải phóng (đóng ở Hà Nội). Bài hát “Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long” chính là bài thi tốt nghiệp của Huỳnh Thơ, bút danh Huỳnh Thơ của anh cũng được dùng từ đấy. Hôm rồi trên chuyến xe bus Cầu Giấy - Nội Bài, bất chợt tôi nghe vọng lên bài hát “Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long” của Huỳnh Thơ. Tôi lặng người đi trước những âm thanh tha thiết, bay bổng. Hình ảnh những cô gái đồng bằng sông Cửu Long sao mà đẹp vậy: “Những đầm sen, những dòng sông lấp lánh trăng sao. Những xóm thôn đồng xanh trải rộng…” , những “ nhịp cầu tre lất lẻo dòng kinh, in bóng hình người con gái quê tôi ”, mà nét đẹp thật riêng ấy chỉ mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long mới có. Và “ áo bà ba, súng quàng vai hôm sớm ra đi… ”. Họ đi cứu nước chỉ chọn vào giờ khắc “hôm sớm”, khi vừa tắt nắng, đi lẫn dưới trăng sao, mờ vào sương khói miệt đồng, che mắt kẻ thù mà đánh giặc… Áo bà ba súng quàng vai hôm sớm ra đi, mái tóc xanh quyện hương trái ngọt, mặt mịn hoa dáng đẹp tình yêu, son sắt thuỷ chung giữ quê nhà. Bài hát đã chọn những hình tượng: “ Đẹp thay tuổi xuân con gái quê tôi ”, càng “ đẹp thay tuổi xuân đi giải phóng quê hương ”; và “ đang cùng toàn dân viết đẹp những bài ca ”, cùng hình ảnh “ cây súng bên mình cũng đẹp như em ”. Nhạc phẩm Huỳnh Thơ đã chọn ca từ, nét nhạc chăm chút cho cái đẹp thật điển hình, thật toàn vẹn về những người con gái của dòng sông quê hương anh, trong chiến trận gian lao mà anh dũng! Bài ca còn “chở” một tư tưởng lớn – đời tự do có gì đẹp hơn! Một chân lý hát lên vang động, chân lý mà vì nó, cả dân tộc đã không tiếc gì máu xương! Sau giải phóng miền Nam, Huỳnh Thơ về sống ở Sài Gòn. Vợ anh cô giáo dạy trẻ. Những năm cuối đời, anh bị bệnh tim và đột ngột ra đi năm 1993! Biết nhiều, đi lại giao lưu thân thuộc những năm cuối đời với Huỳnh Thơ là nhạc sỹ Tăng Minh Thành, người cùng công tác với anh ở Ban văn ng