Những ca khúc lay động trái tim người Vùng mỏ Hào hùng, sục sôi khí thế đấu tranh, sản xuất trong thời chiến; bay bổng, lãng mạn trong thời bình… Đó có lẽ là âm hưởng chung trong giai điệu các ca khúc đã gắn bó, đi cùng năm tháng với biết bao thế hệ người Vùng mỏ, bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ trước với “Những ngôi sao ca đêm” , “Tôi là người thợ lò” , “Đường đi lên mỏ hôm nay” … Giai đoạn ấy là một trong những giai đoạn khó khăn của Vùng mỏ khi nơi đây là trọng điểm sản xuất than của cả nước, người công nhân phải vừa sản xuất vừa chiến đấu, chống lại sự bắn phá của giặc Mỹ, trong khi “Tổ quốc cần than như con thơ cần sữa mẹ”. Khó khăn, ác liệt, nhưng người thợ mỏ đã kiên cường vượt mọi khó khăn để đi tới. Hoàn cảnh khắc nghiệt, sự bi hùng ấy đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhận thức, cảm hứng sáng tạo và trách nhiệm với dân tộc của các nhạc sĩ từ trung ương về Vùng mỏ sống, lao động và thực tế sáng tác thời ấy. Đó là nhạc sĩ Trần Chung với ca khúc “Khi chúng tôi vào lò” ; nhạc sĩ Xuân Giao với ca khúc “Đất mỏ anh hùng” ; nhạc sĩ Tân Huyền với “Đường đi lên mỏ hôm nay” ; nhạc sĩ Hoàng Vân với “Tôi là người thợ lò” , “Tình ca người thợ mỏ” ; nhạc sĩ Phạm Tuyên với “Những ngôi sao ca đêm” ; nhạc sĩ Trọng Bằng với “Nhịp máy khoan” … Các nhạc sĩ ấy sau này đều trở thành những tên tuổi lớn của âm nhạc Việt Nam. Còn những ca khúc của một thời đã có sức sống lâu bền, gắn với vùng đất, con người vùng than cho tới hôm nay, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua các hội thi, hội diễn của ngành Than, qua các chương trình truyền thanh của các công ty than và nhiều chương trình văn nghệ quần chúng từ cấp tỉnh đến cơ sở. Ai trong chúng ta mỗi lần nghe ca khúc “Tôi là người thợ lò” hẳn cũng dâng lên tình yêu thiêng liêng với vùng than. Giai điệu ca khúc chứa đựng niềm tự hào, kiêu hãnh, khí thế tiến quân sản xuất như đánh giặc một thời của người thợ mỏ: Tôi là người thợ lò/ Sinh ra trên đất mỏ/ Trong những ngày cờ đỏ/ Bay trên núi Bài Thơ .../ Có nghe tiếng mìn nổ dậy đất / Tiếng máy reo như tiếng bước đoàn thợ mỏ tiến quân.../ Nào, đồng chí chúng ta ơi, ta tiến quân vào lò... Lá cờ đỏ bay trên núi Bài Thơ là biểu tượng của vùng than. Nhịp điệu hùng tráng như âm vang từ lòng đất sâu thẳm, từ cuộc sống lao động khẩn trương, khỏe khoắn của những người thợ mỏ anh hùng. Nhịp sống vùng than, nhịp sống công nghiệp sôi động được khắc họa nhưng cũng không thiếu những vẻ đẹp bay bổng, lãng mạn được thể hiện trong các ca khúc. Hãy nghe giai điệu sâu lắng đến vô cùng, tận hưởng những khoảnh khắc đẹp như mơ giữa tầng than bụi bặm trong “Những ngôi sao ca đêm” : Ơi hỡi các vì sao, những người bạn đường đêm nay/ Nghe thấy chăng tiếng hát của chúng tôi/ Sao lấp lánh trên trời cao/ Sao lấp lánh trên tầng cao/ Sao lấp lánh thành phố mỏ/ Ta làm ra bao ánh sao lung linh... Hay giai điệu trầm hùng và ca từ nên thơ với “Khi chúng tôi vào lò” : "Khi chúng tôi vào lò, trăng về khuya chờ đợi. Khi chúng tôi vào lò, sương dần buông đầu núi. Vàng Danh ơi Vàng Danh! Nghe tiếng khoan reo đêm nay vào sâu trong vách núi. Tiếng mìn tiếng choòng, cùng với tiếng hát, đâu từ xa vọng theo. Bước chân chúng tôi đi vào lò…". Các đoạn trong ca khúc có rất nhiều những hình ảnh đẹp như thế. Còn ca khúc “Tình ca người thợ mỏ” được nhạc sĩ Hoàng Vân viết khi về thực tế ở Quảng Ninh vào năm 1982, giai đoạn khó khăn, gian khổ của ngành Than, nhưng ca từ trong ca khúc được đánh giá là đã dâng lên một không khí lãng mạn cách mạng thuở ấy. Có một ca khúc đặc biệt, cũng ra đời trong một chuyến đi thực tế của các nhạc sĩ ở Quảng Ninh nhưng lại ra đời khá ngẫu nhiên, đó là “Mái đình làng biển” . Nguyễn Cường, nhạc sĩ nổi tiếng với những ca khúc máu lửa về Tây Nguyên, kể rằng ông đã viết ca khúc rất nhanh, chỉ khoảng 15 phút trong quá trình tham quan ngôi đình vùng biên giới Móng Cái này. Không định trước về chuyến viếng thăm ngôi đình, chính vì thế ông khá ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hiếm có của mái đình. Lại nữa, ngôi đình nơi này giống như một cột mốc văn hóa biên giới của nước Việt… Vậy là âm nhạc cứ tự bật ra một cách tự nhiên, rất nhanh. Ca khúc này viết về mái đình làng biển Trà Cổ nhưng đời sống của nó thì không chỉ với đất và người Quảng Ninh. Có lẽ, chính vì sức lan tỏa mạnh mẽ, tính khái quát hóa cao mà ca khúc ban đầu được đặt lời là “Mái đình Trà Cổ” , rồi sau mọi người tự động đổi thành “Mái đình làng biển” , rồi “Mái đình làng Việt” . Nhạc sĩ Đỗ Hòa An, người trai Phú Thọ về với biển Hạ Long, có thể xem là một trong những nhạc sĩ sung sức nhất, khi ông đã sáng tác trên dưới 500 ca khúc cho đến nay. Các ca khúc của ông đi sâu vào nhiều mảng đề tài khác nhau, đã gọi tên rất nhiều những địa danh trên dải đất Quảng Ninh thân yêu, từ Trà Cổ - Móng Cái, Bình Liêu, Cẩm Phả, Hạ Long, Bãi Cháy, Vàng Danh, Yên Tử, Cô Tô... Với “Cõi thiêng” Yên Tử là giai điệu ngân vang, cao vút: “ Lên cao để thấy Yên Tử ngàn năm một coi thiêng, lên cao để thấy, mái chùa cong cong gánh nặng thời gian… ”. Hay với dải đất địa đầu là sự sâu lắng trong “Hoa xương rồng” : “ Trà Cổ ơi, ngàn năm cát không quên vết chân trần, giọng hò ngư dân trôi vào đêm vắng khơi xa ”. Ông từng chia sẻ, Quảng Ninh là nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tác của ông trong hơn 40 năm qua. Quả thật, nhạc sĩ Đỗ Hoà An đã có những ca khúc hay ở nhiều mảng đề tài khác nhau, như: “Người chiến sĩ đứng gác trên đảo Cô Tô” , “Cô Tô nhớ Bác” , “Đảng là mùa xuân người thợ” , “Vùng than nhớ Bác” , “Bác Hồ sống mãi với thợ mỏ vùng than” . “Thơ thợ lò” , “Rồng hóa đá” , “Vũ điệu Hạ Long” … Vậy nhưng, thân quen nhất, để ai yêu Hạ Long cũng có thể ngân nga vài giai điệu có lẽ phải kể đến “Hạ Long biển nhớ” và “Quê em” . Gọi đây là “Quảng Ninh ca” , “Hạ Long ca” có lẽ cũng không quá, bởi ở rất nhiều những cuộc giao lưu, gặp gỡ với bạn bè các tỉnh, thành, chỉ cần nhắc đến Quảng Ninh là người ta nhớ ngay tới các ca khúc này. “Hạ Long biển nhớ” có lời ca dễ nhớ, dễ thuộc, giai điệu tha thiết như gửi gắm tình yêu với biển, với Hạ Long: “ Đã mấy mùa than anh chưa về với biển, về với Hạ Long gió lộng mây