Nhạc sĩ Hoàng Việt 1928 - 1967 Ngày thứ tư 9/3/1966 Các anh Giang, Bích Lâm, Nhai, Thới thân yêu! Viết cho các anh trên chặng đường, khi dừng lại chờ ngớt máy bay để đi ban đêm. Đây là hai phần năm đoạn đường về quê hương. Đã chia tay với đoàn Khánh Cao hôm 6/3/66. Đoàn ấy đi về Khu 5 rẽ ngả khác, chúng tôi đi tiếp về Nam bộ. Hầu hết anh chị em đoàn chúng tôi đều vững tinh thần tiến bước. Loan vợ Ái mấy ngày đầu, đi đêm bị lật bàn chân sưng lên. Anh em cáng đi bảy cây số. Gặp y sĩ bộ đội tiêm thuốc và nắn lại chân. Anh em mang đồ giúp Loan chống gậy và đi được đến nay. Cho đến ngày hôm nay, ai nấy mặt sưng vù lên, phù thũng vì thiếu rau. Thuốc vitamine uống vô hiệu. Yếu nhất hiện tại là Xuân Phong, sau đó đến tôi. Xuân Phong bị dạ dày hành. Cứ leo dốc là đau bụng như muối xát. Đã mười ngày nay Xuân Phong ăn cháo nhưng cứ lê lết theo. Còn ba hôm nữa đến quân y sẽ xem Xuân Phong ở lại đó dưỡng rồi đi sau hay xin thuốc để đi tiếp. Riêng tôi, chân cũng bị lật. Sưng cổ chân chỗ mắt cá. Lết theo bảy ngày, chân yếu, bị chồi xốc móng chân, làm độc. Sưng chân phù lên rất nhức nhối. Đã ba ngày không ngủ yên nhưng cố lết theo đoàn cho đến quân y để cùng khám và tranh thủ xin ý kiến y sĩ xem nên ở lại hay đi tiếp cùng đoàn. Những đêm đi rừng từ 2 giờ khuya leo dốc băng rừng, đi suốt đêm 7 giờ tối hôm sau mới đến chỗ nghỉ, chân đau khập khiễng bước một mình theo sau đoàn, xa cả một, hai cây số. Những giờ phút ấy thấm thía căm thù giặc Mỹ. Bởi máy bay nó hoạt động dữ cho nên mình mới lấy đêm làm ngày đi như thế này. Leo một bậc đá, chân đau buốt óc, nhói tim. Dốc cao, đường dài dằng dặc... Những đồi thông, sườn núi, bờ suối mát, những khoảng rừng trống, tầm mắt được thấy chân trời mây trắng, hay núi giáp núi trập trùng xanh ở xa... Tất cả những cái đẹp ấy, giặc Mỹ đều ngăn cản mình dừng chân để ngắm thiên nhiên. Máy bay rất hay bay lượn những nơi ấy để tìm bóng dáng con người . Không còn đâu cái thú căng võng thổi cơm trên đồi thông, hay cạnh bờ suối tuôn trắng xoá... Các cô gái múa theo đoàn, mặt đã xanh bủng beo sưng phù, nhưng còn cười còn bước vững khi leo dốc với ba lô gạo nước 18,20 cân. Rất may là đã hai phần năm đoạn đường, đến đây các cô chưa lật chân. Các cô sẽ đi tiếp và sẽ tới nơi vì đoạn đường trước mặt là đoạn đường bằng. Còn một tuần lễ nữa chúng tôi sẽ đến quê hương của đồng chí báo cáo trận Plâycu, Gia Lai hôm ở lớp học. Từ đó bớt leo dốc và thói quen hành quân sẽ giúp đoàn tiến dần đến Nam bộ. Từ hai tuần lễ qua rồi, quả thật đêm nằm mơ một thìa đường, một bát chè. Và cho đến hôm nay, thì thèm cơm ăn cho no, đã là một niềm vui mừng thiết thực khi leo dốc, xuống đèo... Máy bay lại quần trên đầu! Sáng 11/3/1966 Hôm nay nghỉ chân tại một trạm giao liên. Các đồng chí từ ba năm nay chưa nghe tiếng hát, tiếng đàn và bóng dáng một nữ diễn viên múa. Chúng tôi dọn một đám chồi trong trạm, áo quần bà ba ra múa hát, diễn kịch cương và triển lãm tranh miền Nam của Lê Lam, 2 giờ gây vui cho anh em giao liên có kết quả phần nào! Tôi thấy Thái Ly quần nylon, cột dây lưng vàng ra múa con chim tự do solo theo nhạc ghi âm mang theo trong máy mà ứa nước mắt cảm động. Từ hơn mười ngày nay Thái Ly đi la lết mệt nhọc. Mặt sưng, xanh mét gầy gò khẳng khiu với ba lô to sau lưng, chân run lẩy bẩy khi xuống những cái dốc núi cao hai, ba giờ xuống chưa hết dốc! Vậy mà, vẫn múa, ngẩng mặt lên trời mơ một tia nắng ấm. Khi tả con chim trong rừng rũ cánh bay tìm ánh nắng tự do và vùng trời cao rộng, Thái Ly cười với cái mặt xanh và sưng phù, trong cái phông cây lá rừng xanh xanh phía sau lưng khán giả mươi mười lăm người theo dõi chăm chú. Vỗ tay... Hoàn toàn hình ảnh Đoàn Văn công mười bốn năm trước ở sóc Miên sống lại trong ký ức và bao nhiêu kỷ niệm cũ xao xuyến trong lòng! Đêm nay chúng tôi lại đi, sức khỏe anh chị em nghỉ được một ngày có đỡ đỡ, nhưng đường còn dài và chưa vượt qua cái nơi gay go nhất là Khu 6. Chưa vượt qua khỏi Khu 6 thì chưa nói là có đi được đến nơi một cách toàn vẹn. Có lẽ anh muốn biết tình hình sinh hoạt nội bộ đoàn ra sao chứ gì? Rất tốt anh Bảy ạ! Anh chị em tất cả mang một quyết tâm đi cho đến nơi, do đó có gì gian khổ cũng cắn răng chịu và tự lực dấn bước lên! Cho đến hôm nay, tôi và Xuân Phong cứ còn đi được. Còn bảy ngày nữa chúng tôi đến Khu 6. Trước khi qua Khu 6 chúng tôi được nghỉ một ngày để mang gạo theo ăn đường. Gạo mang nặng từ 8 đến 10 cân mà sức lực thì càng ngày càng tụt dần. Nhưng tin rằng chúng tôi sẽ quen. Quen từ khi vào cuộc đi và đã đi cho đến đây rồi. Mong rằng thói quen sẽ giúp đoàn vượt được Khu 6, giúp cả tôi và Xuân Phong vượt. Kinh nghiệm thấy rõ, cứ có bệnh nội, tim, gan, phổi, dạ dày, thấp khớp... Nói chung, không nên đi. Có dấu bệnh mà đi, cũng nằm dọc đường và làm phiền cho giao liên cáng đi, họ phải leo dốc trèo đèo mà cáng thương bệnh binh thì gian khổ vô cùng! Dứt khoát không nên cho ai đi mà phải nằm lại đường. Thư này có đến tay các anh thì cũng phải hai, ba tháng sau. Sau khi điện của mặt trận gửi các anh biết tin đoàn. Viết một vài chi tiết của chuyến đi rất cần, nên cứ viết. Thăm hỏi tất cả, tất cả bạn bè quen biết của tôi và anh em đoàn. Chúc tất cả yên vui, công tác tốt. Thăm chị Bảy. H.V *** Anh Bảy thân mến! Tôi viết thư cho anh xong là trưa nay đi Mỹ Tho, Cao Lãnh dài theo đường số 4 và bờ sông Cửu Long... Tính sổ 1967 thì tôi viết đều tay chứ không tắt. Vở "Bông sen" đã xong tất cả và anh Tư Siêng sẽ gửi ra cùng thư này. Vậy thì năm 1967 tôi viết một vở ấy (102 trang piano) và 12 bài hát, tính từ tuyến lửa Đông Xuân 66 - 67 đổ đi... Có điều là khâu dựng bài hát quá chậm: nhạc gửi từ tháng 5/1967 nay là tháng 11/1967, sáu tháng qua, chẳng thấy Đài Tiếng nói Việt Nam giới thiệu một bài mới nào của tôi cả. Anh hội ý với Tăng Lộc và Hồ Thắm rà lại xem kẹt ở đâu? Tại sao không dựng bài nào trong tám bài gửi ra từ tháng năm của tôi là sao? Mặt khác, cứ mỗi lần nhận được nhạc trong này, Hồ Thắm và Tăng Lộc nên viết thơ báo tin nhận được những bài gì, để chúng tôi yên tâm là bài nào đã tới và bài nào thất lạc rồi để còn gởi lại một, hai lần nữa c