Hợp xướng "Ca ngợi Tổ quốc" của Nhạc sĩ Hồ Bắc Vừa qua, một Liên hoan hợp xướng quốc tế diễn ra tại Việt Nam đã làm ấm lòng nhiều thế hệ Hà Nội, nơi có thể nói là từng tồn tại phong trào ca hát tập thể và hát hợp xướng mạnh mẽ hàng đầu của cả nước. Đã có người hào hứng nhắc đến một thời mà người Hà Nội và các tỉnh thành bạn yêu thích loại hình ca hát tập thể đến thế nào, phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" hồi đó sôi nổi và hào hùng ra sao mà hễ nghĩ lại điều ấy, cùng với phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" ở phía Nam trong những ngày lịch sử ta càng thấy sức mạnh lôi cuốn của thể loại ca nhạc tập thể. Tuy nhiên sau khi kết thúc Liên hoan hợp xướng quốc tế, nhiều người yêu ca hát lại nhắc đến Thủ đô ta giữa một thời hợp xướng, nếu có thể nói thế. Nửa thế kỷ trước, nghe hát hợp xướng là niềm vui lớn của mỗi người Hà Nội, bởi ai cũng hào hứng trước hình ảnh Bác Hồ bắt nhịp dàn hợp xướng Việt Nam hát bài ca Kết đoàn, ai cũng hào hứng thưởng thức những tiết mục hợp xướng, tuy thế, nét đẹp ấy còn được bắt nguồn từ thực tế là sự xuất hiện thường xuyên của thể loại hợp xướng trong đời sống ca nhạc của đất nước. Trải dài theo thời gian là những dàn hợp xướng gây ấn tượng trên sân khấu ở trong nhà hay ngoài trời và ở đó âm lượng lớn của binh chủng này làm náo nức lòng người. Hợp xướng là loại hình thanh nhạc hết sức đặc biệt, có những yếu tố mang tính quy phạm rất cao, nhất là ở châu Âu. Hợp xướng cũng có tính đa dạng, ngoài loại hình mang nét kinh điển thì vẫn có nhiều cơ cấu khác, chẳng hạn các dàn hợp xướng giọng nam của quân đội Liên Xô, Trung Quốc rất nổi tiếng hay các hợp xướng giọng nữ, hợp xướng thiếu niên và thấp hơn là các dàn đồng ca nam nữ. Hình thức đã vậy, cách diễn xướng của loại hình hợp xướng cũng có nhiều cấp độ, có các tác phẩm dành cho hợp xướng song cũng không ít tác phẩm không phải viết cho hợp xướng song đã được trình bày bằng hợp xướng hoặc do dàn hợp xướng minh họa và điều này thường thấy ở ta. Hãy nói các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên đài, hay qua những đĩa hát bằng than từ hồi ấy, người yêu nhạc đã được nghe những hợp xướng xuất sắc cuả Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên... trình diễn nhiều tác phẩm hay như "Cuộc chiến tranh thần thánh, Nơi xa xăm, Lên đường" (Liên Xô), "Vượt sông Đại Độ, Giải phóng quân tiến hành khúc, Tổ quốc ta" (Trung Quốc), "Sông Ô-ka" (Ba Lan)... Còn trong chương trình biểu diễn của các đoàn văn công từ nhiều nước bạn đến Việt Nam, bao giờ cũng ra mắt tại Hà Nội, thường được mở đầu bằng những màn hợp xướng đa chủng loại, trong đó xuất sắc nhất phải kể hợp xướng Quân giải phóng Trung Quốc với "Hoàng Hà đại hợp xướng" , dàn hợp xướng "Sao đỏ" của Tổng cục chính trị quân đội Xô viết với "Ca ngợi Tổ quốc" và "Lê Nin sống mãi" , đoàn hợp xướng Triều Tiên với "Tướng quân Kim Nhật Thành" và "Hò kéo pháo" (Hoàng Vân)... Trong đó, nghệ thuật hát đông người đã được những nghệ sỹ khách đẩy lên rất cao, đáng nói là ở "Vượt sông Đại Độ" bạn trình diễn một lĩnh xướng giọng "Nam cao hoa xoang" (dịch sang tiếng Việt là "Nam cao giọng óc" ) và bài ấy, sau đó Đài Tiếng nói Việt Nam đã dựng bằng giọng ca Trần Khánh. Năm 1961, Đoàn ca múa quân đội Anbani sang Việt Nam biếu diễn, trong tiết mục mở đầu 1 đơn nam đã "chào sân" bằng nốt Sib ở quãng tám thứ 2 làm ngỡ ngàng tất cả! Cũng từ các hiện tượng này mà các giọng hát có âm khu cao ở ta như Trung Kiên, Gia Hội, Ngọc Dậu, Kim Đính rất được yêu thích khi lần lượt thể hiện tài năng tại các hợp xướng của tác giả Việt Nam. Đó là thời kỳ hoàng kim của hợp xướng, nếu có thể nói như thế. Các đoàn văn công trong nước cũng nỗ lực chẳng kém, Đoàn Tổng cục chính trị với các hợp xướng "Du kích sông Thao" (Đỗ Nhuận), "Trường chinh ca, Lô giang" (Lương Ngọc Trác), "Tiến bước dưới quân kỳ, Sóng cửa Tùng" (Doãn Nho), "Vì tương lai, tiến lên" (Nguyễn Đức Toàn), "Cờ ba nhất phấp phới bay" (Nguyên Nhung), Đài Tiếng nói Việt Nam với "Sông Lô" (Văn Cao), "Tiếng chuông nhà thờ" (Nguyễn Xuân Khoát), "Ca ngợi Tổ quốc" (Hồ Bắc), "Hồi tưởng" (Hoàng Vân), "Ba Đình nắng" (Bùi Công Kỳ-Nguyễn Địch Dũng)..., Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch Việt Nam với "Nhân dân ta rất anh hùng" (Văn Chung-Đỗ Dũng), "Tiếng hát giữa rừng Pác Bó" (Nguyễn Tài Tuệ-hình thức accapella), "Bác Hồ đời đời sống mãi" (Trần Quý), CLB Thanh niên với "Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy" (Tô Hải). Còn nữa, là những hợp xướng "Miền Nam anh dũng và bất khuất" (Phạm Tuyên), "Chiều trên bản Mèo" (Lư Nhất Vũ), kể cả hợp xướng thiếu nhi sau này như Xe chú vô đúng ngày tựu trường của Hoàng Nguyễn... và tất cả đều là những tiết mục nghệ thuật kiểu mẫu, có giá trị cao về tư tưởng và về nghệ thuật. Một thời gian sau, thể loại hợp xướng vẫn được duy trì và lại có thêm những tác phẩm như "Đêm lửa Trường Sơn" (Hồng Đăng), "Thanh Hóa anh hùng" (Hoàng Đạm), "Bài ca đất nước anh hùng" (Lưu Cầu), "Quê hương vang lên tiếng hát tự hào" (Trọng Bằng)..., bên cạnh đó cần đề cập những tác phẩm do một giọng ca trình bày với sự hỗ trợ của dàn hợp xướng, đó là "Lá cờ Đảng" (Văn An), "Tôi là người thợ mỏ, Vượt núi" (Hoàng Vân), "Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác" (Cao Việt Bách)... Đặc biệt, sau ngày Bác mất, một số nhạc sĩ đã cho ra đời những hợp xướng mà khá tiêu biểu về bút pháp là "Lời thề sắt son" (Nguyễn Đình Tấn). Về nghệ thuật, thời kỳ đầu đa số các dàn hợp xướng có thể chí hát 2 bè khá đơn giản, đôi khi cấu trúc và hiệu quả không khác là bao so với một hợp ca nam nữ, diễn viên có thể hát bè này chuyển qua bè khác, sau đó đã dần dần hình thành những đơn vị chính quy hơn. Rõ nhất là Dàn hợp xướng của Nhà hát Giao hưởng hợp xướng Việt Nam, ngay từ khi thành lập đã tuyển người để biên chế đủ 4 bè: soprano, alto, tenor, bass và mang tính cố định. Dàn hợp xướng nói trên cũng thử nghiệm thành công hình thức accapella với "Tiếng hát giữa rừng Pác Bó" (Nguyễn Tài Tuệ). Bên cạnh đó, đoàn hợp xướng Đài Tiếng nói Việt Nam đã dàn dựng thành công đại hợp xướng "Hồi tưởng" (Hoàng Vân) với 2 dàn hợp xướng (người lớn và thiếu nhi), ghi nhận tên tuổi các nhà chỉ huy, được đi học lứa đầu ở Liên Xô là 3 nhạ