Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Sinh ngày 5-3-1925 tại Vinh, Nghệ An, quê ở Vĩnh Phúc. Ông là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ năm 1945, ông tham gia sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc ở Liên khu IV. Năm 1948, ông ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Quân huấn cục. Sau đó, năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng Ðoàn Văn công của Sư đoàn 304 và làm Trưởng đoàn. Đó là một câu chuyện dài gắn với ca khúc "Dư âm" mà Nguyễn Văn Tý sáng tác năm 1950, khi ông đang làm Trưởng đoàn Văn công Sư đoàn 304. Ngạn ngữ Tình chị duyên em đã xảy ra với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, khi ông được một người bạn giới thiệu để tìm hiểu một người con gái ở Thanh Chương, Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió Sau khi người vợ đầu tiên giã biệt cuộc sống (năm 1947), có đến mấy năm trời Nguyễn Văn Tý một mình nuôi nấng con nhỏ. Bởi vậy, việc người bạn giúp tìm cho ông bạn mới cũng là chuyện hợp tình hợp lý. Nguyễn Văn Tý háo hức lắm. Nhưng cái duyên cái số mới lạ lùng và trêu ngươi. Đã mấy lần gặp gỡ nhưng vẫn chưa bén tình với cô chị, thì cô em bất ngờ xuất hiện, với nụ cười hồn nhiên và đôi mắt long lanh hút hồn người nhạc sĩ. Tình yêu sét đánh chăng? Đúng thế! Nhạc sĩ họ Nguyễn bị ám ảnh vì đôi mắt ấy. Khi người chị đuổi cô em ra khỏi câu chuyện của mình thì cũng là lúc tình yêu của nhạc sĩ với cô bé 16 tuổi lại nồng cháy. Ngược lại cô em cũng vậy, như một sự thần giao cách cảm, cô cũng không ngủ được. Nàng ra ngoài hiên hong tóc và ôm đàn hát bâng quơ trong đêm. Chính nhạc sĩ lại trở nên ngơ ngẩn vì tiếng tơ lòng ngân nga. Cảm xúc trào dâng, ngay giữa đêm đó, một câu nhạc chợt vang lên trong đầu người nhạc sĩ. Yêu ai ai nắn cung đàn đầy vơi đôi măt xa vời Nguyễn Văn Tý đã quây cót che bớt ánh sáng của ngọn đèn dầu và ghi lại những nốt nhạc trên cái nong kê nghiêng. Nhạc sĩ ôm cây ghita, thầm hát lên những lời đầu tiên về tình yêu trong mộng ước: "Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn, dìu muôn tiếng tơ…". Ông có cảm giác như có ai đó trên trời đọc cho mình chép ra những dòng nhạc dạt dào tuôn chảy. Đó là linh cảm của vị ngọt của tình yêu không tới. Bởi lẽ sau đó là sự cấm đoán chia xa. Hai người không thể đến được với nhau. Nhưng điều kỳ lạ đã xảy ra: 8 năm sau, nhạc sĩ có dịp gặp lại cô gái của "Dư âm" ngày nào ở Vĩnh Yên. Khi ấy, Hằng (tên cô gái) đang đầu quân cho một đơn vị quân đội. Bấy giờ nàng đã ở tuổi 24 và đã có chồng. Cả hai đều sững sờ khi gặp nhau, nhưng chỉ thế thôi, không thể nói năng gì. Cô gái đỏ mặt, lúng túng vội rảo bước như muốn chạy trốn. Nguyễn Văn Tý cũng vậy, cho dù có việc ở lại đơn vị ít lâu, ông cố ý tránh mặt cô gái vì sợ mang tiếng cố tình tìm lại người mình đã từng thầm yêu trộm nhớ để kết nối duyên xưa. Ông tự nhủ: Thôi cứ để đó là một "Dư âm" , hãy yêu cái mộng ước đó. Đôi mắt, nụ cười và tiếng hát ấy trong đêm trăng…tất cả chỉ là tình yêu với bóng dáng huyền mộng, nhớ nhung. Nó sẽ còn mãi trong lòng mình. Tuy tình chẳng tới, nhưng người nghệ sĩ đã kịp để lại cho đời một khúc ca mãi còn đồng vọng trong lòng khán giả nhiều thế hệ (Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và vợ Bạch Lê) Tuy tình chẳng tới, nhưng người nghệ sĩ lại để đời cho những phút giây sáng tạo đột xuất, và ca khúc “ Dư âm ” đã làm nổi danh cái tên Nguyễn Văn Tý từ đó. Đặc biệt từ khi bài hát này được lồng trong phim “ Kiếp hoa ”, chiếu ở vùng địch tạm chiếm. Mặc cho “ Dư âm ” bị cấm trong vùng kháng chiến, nhưng trong những ngày tháng ấy, nó vẫn được phổ cấp sâu rộng trong đời sống và nhất là tầng lớp tiểu tư sản và học sinh sinh viên. Nhưng thật rủi thay, đó cũng là một tai hoạ cho người nhạc sĩ trẻ này, khi ba năm sau có một cuộc chỉnh huấn bất ngờ, và “ Dư âm ” là một dị phẩm bị đưa ra là một điển hình để khảo cung. Đây là sự kiện làm nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý choáng váng, bởi nó xảy ra sau lễ thành hôn của ông với ca sĩ Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Niềm vui chưa kịp thoả thì một không khí u ám bao trùm với những câu hỏi dồn ép với nhạc sĩ rằng, vì sao bài hát “ Dư âm ” lại được đưa ra vùng bị địch tạm chiếm, sào huyệt của kẻ thù; Hoặc nhạc sĩ đã nhận được gì của kẻ địch trả công cho?. Sau nhiều lần làm kiểm thảo, nhưng mọi chuyện cứ giằng co, bị đào bới mãi, làm nhạc sĩ mệt mỏi, tuyệt vọng. Đến nỗi ông đành phó mặc cho số phận run rủi, và kêu lên rằng, sẵn sàng chịu bị bắt nếu có chứng cứ gì xác đáng. May sao một thời gian sau, lãnh đạo cấp trên cũng thông qua bản kiểm điểm thành khẩn của nhạc sĩ và không có bằng cớ để xử lý kỷ luật. Nhưng mọi chuyện đâu đã kết thúc…? Quả là án treo dư âm kia vẫn dai dẳng đến mức, vẫn là nguyên cớ ngầm cho cuộc chỉnh huấn lần thứ hai, khi có chuyện đồn thổi là, tác giả “ Dư âm ” là một thành viên của nhân văn giai phẩm. Đáng chú ý, khi đó Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang là một trong 5 người được cử ra thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, vào năm 1957. Tất nhiên họ cũng chẳng hề quan tâm đến những thành tựu, sau 4 năm phấn đấu, mà nhạc sĩ đạt được sau lần chỉnh đốn tư tưởng lần trước. Sau "Dư âm" , nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã liên tiếp gặt hái được một số thành công. Năm 1952, ông đoạt giải thưởng cao với ca khúc "Vượt trùng dương" , và năm 1956, ông có ca khúc "Mẹ yêu con" được phát liên tục qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam qua giọng hát của Khánh Vân và Thanh Huyền. Hẹn em từ muôn kiếp trứơc nhớ em mấy thuở bạc đầu Anh đã âu sầu vì đường tơ vương vấn Em để cung đàn đưa anh về đâu? Nhạc sĩ đã thanh minh không biết bao lần, về cái chuyện có tên ông trong ban biên tập nội dung của tạp chí “ Nhân Văn ”, do nhà thơ Đặng Đình Hưng vì yêu mến nhau từ trước, tự đưa vào mà không cho ông biết thôi. Nhưng tình ngay ý gian, giấy trắng mực đen, thật khó giải thích. Ông cãi chẳng lại và bị kiểm điểm ở đình Ngọc Hà, năm ấy trước cả trăm con người. Và lẽ dĩ nhiên đó là sức ép buộc ông phải tự nguyện rút ra khỏi ban chấp hành Hội Nhạc sĩ khoá I. Sự thật sao trớ trêu, sau đó có những kết luận của những người có trách n