(Nhạc sĩ Đỗ Nhuận) Nhạc sỹ Đỗ Nhuận sinh ra trong một gia đình nông dân ở thôn Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông được sinh ra vào một tháng nhuận năm 1922, nên cha đặt tên là Đỗ Nhuận. Từ thuở nhỏ, Đỗ Nhuận đã theo cha tới sinh sống ở thành phố cảng Hải Phòng - nơi cha ông làm "lính kèn Tây" trong đội quân nhạc. (Du kích Sông Thao- Đỗ Nhuận) Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Đỗ Nhuận từng tâm sự "hành trình" đến với âm nhạc của ông: “Những âm thanh mà tôi được tiếp cận là tiếng còi máy tơ, máy xi măng, còi tàu khi cập bến và rời cảng, những tiếng kèn đồng, tiếng trống ngũ liên mỗi khi làng có hội và tiếng hát xẩm của những người hành khất. Chính những âm thanh đời thường ấy đã thấm sâu vào tâm hồn, tạo cho tôi phong cách trong sáng tác”.. . Đến với âm nhạc khi chưa qua một trường lớp nào... để rồi tên tuổi Đỗ Nhuận đã ghi dấu như là cánh chim đầu đàn của làng nhạc cách mạng Việt Nam. Cảm hứng âm nhạc của Đỗ Nhuận bắt đầu từ quê hương và gia đình. Quê ông vốn có truyền thống hát chèo. Ngay từ năm 14 tuổi ông đã học âm nhạc dân tộc và biết chơi Sáo Trúc, Tiêu, Đàn Nguyệt, Đàn Tứ, Đàn Bầu. Những năm đi học ở Hải Phòng, ông sinh hoạt trong Hướng đạo sinh, trong các buổi sinh hoạt thường hát những bài hát Pháp và châu Âu. Tiếp đó không khí âm nhạc cải cách bắt đầu ảnh hưởng đến Đỗ Nhuận, ông học đàn Ghi ta, Bănggiô, Viôlông và ký âm pháp. Về ảnh hưởng và tiếp thu âm nhạc châu Âu và Pháp, riêng đối với các nhạc sĩ có tinh thần yêu nước, không thể không kể đến những ca khúc cách mạng của Pháp như Macxâye và Quốc tế ca. (Nhạc sĩ Đỗ Nhuận-Tố Hữu-Trần văn Khê-Bảo Định Giang-Huy Cận) Khác với phần đông các nhạc sĩ có khuynh hướng lãng mạn, Đỗ Nhuận giống Lưu Hữu Phước, vào âm nhạc bằng những bài ca yêu nước. Năm 1939 Đỗ Nhuận viết ca khúc đầu tiên khi mới ở tuổi 17: Trưng Vương, nhằm ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở Hải Dương. Trong những năm 1940-1941, Đỗ Nhuận dồn sức hoàn thành ca cảnh Nguyễn Trãi - Phi Khanh (gồm 3 ca khúc Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc). Chính những ca khúc này và một số hoạt động yêu nước trong thời gian ở Hải Phòng và một số nơi khác Đỗ Nhuận đã bị thực dân Pháp bắt đi đày ở Sơn La năm 1943. Tuy nhiên, sự cầm tù ấy càng làm Đỗ Nhuận gắn bó với cách mạng hơn. Chỉ một năm trong tù một loạt ca khúc đã ra đời: Chiều tù, Côn Đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân (lời Đào Duy Từ), Viếng mồ tử sĩ. Không chỉ viết nhạc, viết kịch, ông còn cùng anh em tù nhân chế tác nhạc cụ bằng những chất liệu đơn sơ nhất, như lấy vỏ quả bầu khô làm thùng đàn măngđôlin, mặt đàn mài từ thùng gỗ thông của hộp đựng cơm, cần đàn đẽo từ cây củi, bàn phím đàn làm từ ống bơ, dây đàn làm từ dây phanh xe đạp và dây điện, xin tóc chị em làm vĩ kéo… Bằng những nhạc cụ tự chế đó, dàn nhạc đã đi biểu diễn khắp các gian tù ở Hỏa Lò với các vở kịch thơ “Chiến sỹ và Hằng Nga” của Vương Gia Khương, “Cô gái Lam Hồng” của Đào Duy Kỳ và ca cảnh “Nguyễn Trãi – Phi Khanh” của Đỗ Nhuận, tất cả diễn viên đều là tù nhân bị giam ở Hỏa Lò lúc bấy giờ. Thời gian bị giam ở Hỏa Lò, ông đã sáng tác một số ca khúc “Chiều tù”, “Quảng Châu công xã”, “Côn Đảo”... Mùa xuân năm 1944, ông bị tòa thượng thẩm kết án 3 năm tù và đày đi nhà tù Sơn La. Trong 3 năm ở nhà tù Sơn La, nhạc sỹ Đỗ Nhuận đã sáng tác nhiều bài hát: “Hận Sơn La”, “Viếng mồ tử sỹ”, “Du kích ca”... Hiện nay, ở nhà tù Sơn La vẫn còn lưu giữ những bút tích của ông. “Du kích ca” Ra tù, cảm hứng về rừng núi, về chiến khu và cách mạng đã giúp Đỗ Nhuận hoàn thành các ca khúc hừng hực khí thế tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám: Du kích ca (1944), Nhớ chiến khu (1945). Sau cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Kỳ, Đỗ Nhuận có ngay ca khúc Tiếng súng Nam bộ, Tiếng hát đầu quân và Đoàn lữ nhạc. Một trong những bài hát của nhạc sỹ Đỗ Nhuận được nhiều người hát trong giai đoạn khởi nghĩa giành chính quyền là tác phẩm “Du kích ca”. Theo ghi chép trong hồi ký của nhạc sỹ Đỗ Nhuận, bài “Du kích ca” được sáng tác trong khoảng thời gian sau Tết âm lịch năm 1945. Khi đó, không khí cách mạng từ bên ngoài đã lan vào trong nhà tù Sơn La, anh em trong tù luôn hồi hộp dõi theo những tin tức cách mạng bên ngoài. Ban ngày mọi người vẫn đi lao động, vào buổi tối, trong các trại, anh em tù cuộn chiếu lại làm súng, vác trên vai, tập đi đều. Lúc này, có một chiến sỹ cách mạng nói chuyện về chiến thuật đánh du kích, nhắc đến khẩu hiệu của du kích là một viên đạn phải hạ được một quân địch, du kích với dân phải như cá với nước… Từ cảm hứng đó, ông đã sáng tác bài hát “Du kích ca”. Sau này cùng với “Tiến quân ca” của nhạc sỹ Văn Cao và “Diệt phát xít” của nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi, “Du kích ca” là một trong những bài hát được hát nhiều nhất trong những ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Chiến thắng Điện Biên, Trong kháng chống Pháp, Đỗ Nhuận đã viết nhiều tác phẩm gây ấn tượng mạnh mẽ, thúc giục cả dân tộc vững bước trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Bên cạnh Áo mùa đông đằm thắm trữ tình là Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1951) trang trọng; bên cạnh Sóng cả không ngã tay chèo chân chất mộc mạc là Du kích sông Thao (1949) cuồn cuộn hoành tráng. Đặc biệt là bộ sử thi âm thanh về trận Điện Biên Phủ lịch sử: Hành quân xa (1953), Trên đồi Him Lam (1954), Chiến thắng Điện Biên (1954). Sau hòa bình lập lại, Đỗ Nhuận trở thành Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam và giữ chức vụ này trong hai khóa I và II (1957 - 1983). Đỗ Nhuận là nhạc sĩ duy nhất của thế hệ sau này được đi tu nghiệp đại học tại nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô, từ 1960-1963. Và ông là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết Ô-pê-ra (Opéra) với Cô Sao (1965), Người tạc tượng (1971). Ông còn viết nhiều tác phẩm khí nhạc, trong đó có Vũ khúc Tây Nguyên cho Viôlông và dàn nhạc đã trở thành một tác phẩm có giá trị kinh điển. Đỗ Nhuận đã luôn khuyến khích các nhạc sĩ trẻ đi theo con đường âm nhạc chân chính. Tại trụ sở của Hội Nhạc sĩ Việt Nam hiện nay, vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật gắn với ông... Với những cống hiến của mình cho nền âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã được nhận nhiều Huân chương cao quý, đặc biệt là Giải thưởng Hồ Chí Minh