“Nhạc đỏ” cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm nhạc được phát trên đài phát thanh, các phương tiện thông tin đại chúng, được trình diễn trong các buổi sinh hoạt, hội diễn văn nghệ từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam. Trong giai đoạn 1954 - 1975, với quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị, âm nhạc ở miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam sáng tác theo phương châm: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, với các đề tài phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược lúc đó: chống Mỹ cứu nước ở hai miền và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trong đó đề tài thứ nhất, âm nhạc có nhiều ca khúc thành công hơn. Vào thời đoạn đầu, trong 1955 - 1956, tiếp tục niềm tự hào, lạc quan trong ca khúc 1954, là tiếng ca vui tự do khi miền Bắc được giải phóng được ngân lên với cung bậc mới: Lời ca thống nhất (1955) của Trần Quý; Liên khu V yêu dấu (1955), Tình trong lá thiếp (1955) của Phan Huỳnh Điểu; Bài ca cách mạng tiến công (1956) của Đỗ Nhuận; Tiếng hát biên thùy (1956) của Tô Hải; Ca mừng đời ta tươi đẹp (1955) của La Thăng; Ca mừng chế độ ta tươi đẹp (1955) của của Xuân Oanh; Hát mừng quê ta (1956) của Lê Lôi; Mẹ yêu con (1956) của Nguyễn Văn Tý và Ánh sáng trên cầu Việt Trì (1956) của Hoàng Hà, v.v... Sau đó, khi Tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc theo Hiệp định Genève không được thực hiện, đất nước bị chia cắt dài lâu, trong thời đoạn từ cuối năm 1956 đến đầu năm 1958 nội dung ca khúc là tình cảm nhớ thương quê hương miền Nam, niềm tin, khát vọng cháy bỏng thống nhất đất nước, như các ca khúc: của người con miền Nam ra Bắc tập kết như các ca khúc: Tình ca (1957), Tình ca 2 (1958), Quê mẹ (1958) của Hoàng Việt; Quê tôi (1957 - Lưu Cầu); Quê tôi miền Nam (1957 - Phan Huỳnh Điểu); Câu hò bên bờ Hiền Lương (1957 - Hoàng Hiệp - Đằng Giao); Bài ca hy vọng (1958 - Văn Ký), v.v... Chuyển qua thời đoạn 1958 - 1960, miền Bắc vừa đã hoàn thành kế hoạch ba năm (1954 - 1957) khôi phục kinh tế thắng lợi và bước vào thời kỳ mới: cải tạo XHCN, bước đầu phát triển kinh tế, phát triển văn hóa. Những thành tựu đạt được trong kế hoạch 3 năm sau này (1958 - 1960) cùng với những thay đổi lớn về văn hóa, kinh tế, xã hội của miền Bắc trong sáu năm (1954 - 1960) đã tác động sâu sắc đến văn nghệ sĩ nói chung, nhạc sĩ nói riêng. Hòa nhập với cuộc sống của nhân dân, họ đã viết nên nhiều ca khúc giá trị phản ánh được cuộc sống mới và biểu hiện được tâm tư, tình cảm, khát vọng của nhân dân. Không khí hồ hởi, niềm tin yêu, tinh thần lạc quan trong cuộc sống dựng xây được các nhạc sĩ đưa vào các ca khúc sáng tác trong ba năm này. Năm 1958 là Mời anh đến thăm quê tôi , Biết ơn Võ Thị Sáu của Nguyễn Đức Toàn; Tiến bước dưới quốc kỳ của Doãn Nho; Tiếng hát trên tiền tiêu Tổ quốc của Thái Quý; Nhớ đàn xe nước của Vân Đông; Lời ca gởi Noọng của Nguyễn Tài Tuệ và Lướt sóng ra khơi của Thế Dương trở thành bài hát chính thức của quân chủng Hải quân Việt Nam, v.v… Sang năm 1959, không gian nghệ thuật trong ca khúc mở rộng hơn: Từ trên đỉnh núi của Nguyên Nhung; Tiếng hát giữa rừng Pác Bó của Nguyễn Tài Tuệ; Kể chuyện người cộng sản của Trần Hoàn; Trước ngày hội bắn của Trịnh Quý; Lướt sóng ra khơi của Thế Dương; Dấu chân trong rừng của Vĩnh An; Đêm thao thức của Kpa Pùi; Sao em chưa về của Lê Lan… Đến năm 1960 là: Xa khơi của Nguyễn Tài Tuệ; Việt Nam ta đang mùa hoa của Vũ Trọng Hối; Việt Nam quê hương tôi của Đỗ Nhuận; Cánh diều miền Bắc của Văn An, v.v… Trong thời đoạn này (1958 - 1960), các nhạc sĩ đã đi thực tế sáng tác, sống, làm việc cùng nhân dân và viết lên những ca khúc về ngành nghề của họ: Con trâu sắt (1958) của Trần Chương; Hò kiến thiết (1958) của Thái Cơ; Tiếng còi thi đua (1959); Quà tháng năm dâng Người (1960 - lời Thế Bảo) của Hồng Đăng, v.v… Sau phong trào Đồng khởi (1959), nhất là từ năm 1960, khi Mặt trận Giải phóng miền Nam chính thức thành lập, miền Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ với sự chi viện của Miền Bắc, nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, giải phóng Miền Nam là đề tài chính của âm nhạc thời đoạn này. Nhiều ca khúc “đi cùng năm tháng" ra đời, biểu hiện tâm tình, khát vọng của nhân dân và phản ánh những sự kiện anh hùng của thời đại. Với phương châm văn nghệ phục vụ chính trị, mà quan trọng hơn tấm lòng vì nhân dân, dân tộc, tự nguyện nhận trọng trách về mình, với một đội ngũ hùng hậu, nhiều thế hệ, nhiều vùng miền, các nhạc sĩ Việt Nam đã bám sát nhiệm vụ chính trị của từng thời điểm để sáng tác những ca khúc giá trị và kịp thời cho cách mạng giải phóng dân tộc. Có thể thấy những cao trào của kháng chiến chống Mỹ cũng là những thời điểm ca khúc cách mạng Việt Nam nở rộ, vút cao: 1960, 1965, 1972, 1973 và 1975. Năm 1960, khi miền Nam bắt đầu vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, bài hát Giải phóng miền Nam (1960 - Huỳnh Minh Siêng) ra đời và trở thành ca khúc chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quốc ca Cộng hòa miền Nam Việt Nam, mở đầu cho hàng loạt sáng tác về đề tài chống Mỹ cứu nước trong những năm đầu chống Mỹ. Sau đó, cũng trong năm 1960 nhiều ca khúc được viết kịp thời: Bạn ơi hãy nghe Bến Hải tâm tình của Vĩnh Cát; Cánh diều miền Bắc của Vân An; Việt Nam đang mùa hoa của Vũ Trọng Hối; Việt Nam quê hương tôi của Đỗ Nhuận… Sang năm 1961 là: Bài ca may áo của Xuân Hồng; Hà Hội - Huế - Sài Gòn của Hoàng Vân; Trăng sáng đôi miền của An Chung; Nhớ (thơ Thanh Hải) của Lê Yên; Tổ quốc tôi trên 10 năm đã lớn của Hồng Đăng, v.v… Năm 1962, ca khúc nở rộ hơn với Những ánh sao đêm của Phan Huỳnh Điểu; Giờ hành động của Lưu Hữu Phước; Nắng ấm về trên Tổ quốc của Trần Khánh; Tiếng hát Mơ Nông Tipri của Nhật Lai; Tình em của Huy Du - Ngọc Sơn; Quê Hương ơi ta sẽ về của Trần Kiết Tường; Nhớ về quê mẹ của Vân Đông; Trên đường ta đi tới của Bửu Huyền; Khúc ca Hơ Rê của Văn Ngọc… Sang năm 1963 - 1964, khi phong trào cách mạng lên cao thì ca khúc cách mạng ở cả hai miền cũng bay bổng theo. Năm 1963 là: Hành khúc giải phóng của Lưu Hữu Phước; Xuân chiến khu của Xuân Hồng; Lời ca không tắt của Tô Hải; Qua sông của Phạm Minh Tuấn; Gởi anh đi đầu quân của Nguyễn Đình Phúc; N