Thi sĩ Xuân Quỳnh Trước Cách mạng Tháng Tám, nhắc tới những đại diện tiêu biểu ở mảng thơ tình, thường người ta vẫn kể tên hai thi nhân Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Sau này, bên cạnh tên tuổi Xuân Diệu, người ta nhắc tới Xuân Quỳnh. Vẫn biết, ngoài hai tác giả nói trên, ở ta còn không ít người làm thơ tình hay, song về cơ bản, ai nấy đều thừa nhận Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai tiếng thơ có sức chinh phục đông đảo bạn đọc. Cả Xuân Diệu, Xuân Quỳnh đều giống nhau ở giọng thơ nồng nàn, da diết và đều có chung tâm trạng lo lắng, cuống quít như thể tình yêu chỉ là một thứ bong bóng mong manh dễ vỡ. Năm 1962, Xuân Diệu có bài "Biển". Một năm sau, Xuân Quỳnh cũng lại có "Thuyền và biển". Đó là hai bài thơ tình thuộc loại nổi tiếng nhất của hai người. Chúng có cấu tứ tương đối giống nhau. Trong bài thơ của mình, Xuân Diệu ví người con trai như biển, người con gái là bờ, còn Xuân Quỳnh thì ngược lại: " Những đêm trăng hiền từ/ Biển như cô gái nhỏ/ Thầm thì gửi tâm tư/ Quanh mạn thuyền sóng vỗ ". Bài thơ của Xuân Diệu có chỗ gào thét, trào dâng nhục cảm: " Cũng có khi ào ạt/ Như nghiến nát bờ em/ Là lúc triều yêu mến/ Ngập bến của ngày đêm ". Xuân Quỳnh cũng đề cập tới chuyện này, nhưng là phụ nữ, chị kín đáo hơn: " Cũng có khi vô cớ/ Biển ào ạt xô thuyền/ (Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên )". Thật khó so sánh cái hơn, cái kém giữa hai bài thơ. Xuân Diệu kết thúc bài "Biển" bằng một hình ảnh có sức bung phá, rất tạo ấn tượng: " Để những khi bọt tung trắng xóa/ Và gió về bay tỏa nơi nơi/ Như hôn mãi ngàn năm không thỏa ", kèm đó là một tiếng kêu thống thiết: " Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi ". Xuân Quỳnh không biểu lộ tình cảm bộc trực như vậy. Chị không dùng chữ "yêu" nhưng các hình ảnh nhắc tới ở phần kết bài vẫn đủ giúp chị gửi đi thông điệp tình yêu của mình: " Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió/ Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố ". Cái hay ở đây là Xuân Quỳnh có cách liên tưởng vừa giàu biểu cảm vừa đảm bảo yếu tố khoa học. " Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau rạn vỡ ". Những ai theo nghề đi biển hẳn sẽ thấm thía cái hiện thực này: Khi thuyền phải bỏ lại trên bờ, không được "ăn muối", ngâm nước, lại phơi mình trước nắng gió, nó rất dễ bị nứt nẻ. " Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió ". Đúng vậy, người đi thuyền chỉ ngừng hành trình của mình trong những ngày biển động. Còn nói " Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố " thì cách nói ấy không chỉ đúng với qui luật tình cảm mà còn đúng với qui luật tự nhiên: Hầu hết mọi cơn bão đều bắt đầu được hình thành từ biển. Sau " Thuyền và biển" , như chưa thỏa với những gì mình muốn gửi gắm, Xuân Quỳnh viết tiếp bài "Sóng" . Cùng thể thơ ngũ ngôn, bài này khá giống "Thuyền và biển" ở cả giọng điệu lẫn cấu tứ. Bài thơ hẳn sẽ có vị trí riêng trong sự nghiệp thơ của Xuân Quỳnh nếu nó không làm người đọc nhớ tới "Thuyền và biển" (có cảm tưởng như " Sóng" là một nhánh phụ của "Thuyền và biển"). Đã có lúc tôi chợt nghĩ: Giá như tác giả dồn hai bài làm một, biết đâu chị sẽ có một thi phẩm qui mô và đặc sắc hơn? Vẫn như ở " Thuyền và biển ", trong bài "Sóng", Xuân Quỳnh không nhận mình là bờ. " Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ ". Nghĩa là trong tình yêu, chị sẵn sàng ở thế chủ động. Đây là một nét đáng quý của người phụ nữ thời đại mới. Người phụ nữ đó dám "rủ" người mình yêu: " Anh có đi cùng em/ Đến những miền đất lạ …" (bài "Mùa hoa doi"), biết nhắc người mình thương: " Sao không cài khuy áo lại anh/ Trời lạnh đấy, hôm nay trời trở rét " (bài "Trời trở rét") và biết "dọa" người mình đang "kết": " Nếu đời anh đã xếp thành ngăn/ Em sẽ đảo tung lề thói cũ/ Điều đơn giản anh hiểu ra tất cả/ Rằng tình yêu không thể tách rời/ Khi ấy em là cơ thể anh rồi/ Nếu cắt đi anh sẽ ngàn lần đau đớn " (bài "Thơ viết cho mình và những người con gái khác"). Yêu thơ Xuân Quỳnh, trước nhất là chúng ta yêu một con người, một con người có tâm hồn đa cảm, giàu nghị lực và luôn cháy bỏng khát vọng yêu thương... Một nhà văn phương Tây có nói đại ý: "Nếu một người nào đó không có cái gì là của riêng mình thì có nghĩa là họ không có một cái gì hết". Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thấy hầu như tác giả luôn viết cho một đối tượng cụ thể (chứ không phải cho "số đông" chung chung nào đó). Bởi có đối tượng cụ thể để mà giãi bày, để mà "trút bầu tâm sự" nên giọng thơ Xuân Quỳnh thường thủ thỉ tâm tình chứ không... lên gân. Nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ nhận xét: "Đọc thơ Xuân Quỳnh, người ta không có cảm giác tác giả "cố ý" làm thơ". Nhiều người cũng có chung ý nghĩ như vậy. Nếu như ngoài đời, Xuân Quỳnh thường hay dị ứng, giễu cợt sự "long trọng hóa" vấn đề thì trong việc làm thơ, chị cũng không mấy quan tâm tới những đề tài được xem là "lớn" nhưng xa lạ với thế giới nội tâm của mình. Thơ Xuân Quỳnh đi vào những đề tài hẹp nhưng có tính "muôn thuở". Số phận đưa đẩy Xuân Quỳnh có một đời sống riêng rất dích dắc. Người chồng sau của chị - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ - kém chị tới 6 tuổi, từng có một đời vợ và có con riêng. Vậy là có lúc, trong nhà Xuân Quỳnh đủ cả "con anh, con tôi và con chúng ta" . Bằng trái tim nhân hậu, trĩu nặng yêu thương, Xuân Quỳnh đã bứt lên hoàn cảnh, giải quyết ổn thỏa mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu, quan hệ mẹ kế con chồng, thậm chí còn đưa được những tình cảm ấy vào thơ (vốn dĩ, đây là những chủ đề "nhạy cảm", khó viết - ca dao xưa từng nói: " Mấy đời bánh đúc có xương/ Mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng "). Các bài "Mẹ của anh", "Cắt nghĩa" đã xóa đi mặc cảm (và ác cảm) tự bao đời về các bà mẹ chồng, mẹ ghẻ trong trái tim bao người. Không những vậy, trong kho tàng thi ca Việt Nam, có thể xem "Mẹ của anh" là bài thơ hay hiếm hoi về chủ đề mẹ chồng - nàng dâu. Là người dám sống hết mình cho tình yêu, Xuân Quỳnh đồng thời cũng là người rất biết vun vén cho hạnh phúc gia đình. Có điều gì đó hơi mâu thuẫn ở người đàn bà này? Thông minh mà thật thà, hồn nhiên và sâu sắc. Đú