Nhà thơ -Hoàng Trung Thông

Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925- 1993), quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, là một tên tuổi đáng nhớ! Những năm 80 của thế kỷ trước, do công việc của Báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, nơi tôi công tác, tôi có đến thăm nhà thơ Hoàng Trung Thông mấy lần tại nhà riêng. Đó là căn nhà hơi hẹp trên gác hai ở phố Ngô Quyền, Hà Nội, được gọi bằng cái tên văn chương là Tao Phòng.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông (giữa) và các đồng nghiệp

Tôi nhớ mãi một dáng người đứng tuổi cao đậm, vạm vỡ, đôi mắt đen to đầy cảm mến cùng với cử chỉ thân thiện, giản dị, dễ gần. Nhiều người đã quá biết rằng Hoàng Trung Thông thường xuyên đến căn nhà số 41, phố Trần Hưng Đạo gần nhà ông để sum vầy vui vẻ rượu và thơ cùng các bạn văn, nhiều nhất là các bạn trẻ. Nhà thơ bậc trưởng lão đặt cho nơi ấy cái tên đẹp và sang là Trúc Viên Thi Quán. Tôi không biết uống rượu cho nên chỉ đến đôi lần, hình như cùng Lưu Quang Vũ, Định Nguyễn, sau thì sao nhãng. Đối với Hoàng Trung Thông, rượu là một phần đời ông, một phần thơ ông!
Hồi thơ ấu, tôi đọc trên báo Văn học một bài thơ của Hoàng Trung Thông nói đến cảnh thơ mộng, trữ tình: Những cô thôn nữ ngồi trên thuyền bơi giữa hồ sen đang mùa hoa để hái những bông sen vừa vươn nở trong cảnh thanh bình: Thuyền chở đầy hoa thắm Tay ôm đầy hương thơm ... Thuyền đi trên lá biếc Mặt người lồng bóng hoa ... Ba cô con gái Má hồng hây hay Hoa lướt nhẹ trên tay. Thuyền đi êm trên lá Tiếng hát bay ngời trong nắng hạ

Thuyền chở đầy hoa đầy ước mơ. Từ đó, càng ngày tôi càng có ấn tượng tốt đối với thơ Hoàng Trung Thông và ngưỡng mộ nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ chống Pháp, chống Mỹ này. Nhiều bạn đọc căn cứ vào nguồn gốc Nghệ An, dáng vẻ bề ngoài của Hoàng Trung Thông và câu thơ nổi tiếng "Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm", trong "Bài ca vỡ đất" (1948), cùng một số bài khác như bài "Bài thơ báng súng"Ta lại viết bài thơ báng súng

Các Anh về mái ấm nhà vui

Con lớn lên đang viết tiếp thay cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Người hôm nay viết tiếp người hôm qua. để cho rằng thơ Hoàng Trung Thông chủ yếu là rắn rỏi, mộc mạc... Thật ra, thơ ông còn có một phẩm chất khá đậm là trữ tình, tinh tế... Tôi từng ghi ngẫu nhiên trong sổ tay cách nay ba mươi năm mấy câu trong bài "Mẹ Bường" (tập Trong gió lửa, 1971) mà tôi xúc động: Nhìn tôi, mẹ thở dài Nghẹn ngào không nói được Trên chiếc nong, mẹ mời tôi chén nước Chén đau này, tôi biết uống làm sao Ôi, một chiều Vĩnh Linh Tôi nhớ mãi Từ dưới hầm bước lên chậm rãi Bà mẹ Bường tóc bạc phơ phơ. Và đây là những câu thơ mềm mại, uyển chuyển, phảng phất hương vị ca dao: Rừng xanh xanh cả máu người Còn rừng lúa tốt, còn tươi áo chàm hoặc: Hoa cau thơm ngát đầu nương Anh đi là giữ tình thương dạt dào. cùng những câu khác trong bài "Bao giờ trở lại" viết vào các năm 1949, 1951, đến năm 1955 Lê Yên phổ nhạc với tên "Bộ đội về làng". Đến tập Mời trăng, tập thơ cuối cùng ông công bố trước khi mất vài năm lại đầy tâm sự, rất đậm chất trữ tình, chất mơ mộng, đượm buồn, câu chữ, hình ảnh tinh tế, uyển chuyển. Nói đến Hoàng Trung Thông, trước hết là nói đến một nhà thơ của quê hương Nghệ An "Non xanh nước biếc như tranh họa đồ" (ca dao), một vùng nổi tiếng về văn chương, học thuật, lừng danh những ông đồ, nổi tiếng về truyền thống cách mạng.

        

Từ thời thơ ấu, Hoàng Trung Thông đã yêu văn thơ và sáng tác. Nhiều bài thơ của ông, trong đó "Bài ca vỡ đất" quen thuộc và nổi tiếng, nói lên cảnh và người Xứ Nghệ, đề cao vẻ đẹp, thể chất và tâm hồn người dân Xứ Nghệ. Bài thơ "Bao giờ trở lại" được phác thảo tại lớp văn hóa kháng chiến khu tư đóng trụ sở tại Thanh Hóa, một tỉnh thuộc khu vực ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, cũng là một vùng quê lớn trong những năm kháng chiến.
Nhà thơ Hoàng Trung Thông là người có công lớn trong việc quản lý hoạt động văn học, nghệ thuật. Từng là bí thư chi bộ xã, chính trị viên huyện đội Quỳnh Lưu, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Nghệ An, ông có nhiều kinh nghiệm về tổ chức, quản lý.
Sau này, hiểu thêm nghề nghiệp văn chương, học thuật, Hoàng Trung Thông đã giữ những cương vị quan trọng như: Thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học, nghệ thuật Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn Nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng vụ Văn Nghệ ban Tuyên huấn Trung ương, ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, phụ trách tạp chí Tác Phẩm Mới...
Những cương vị mà Hoàng Trung Thông đảm nhiệm nói trên đã giúp nhà thơ đi sâu vào lĩnh vực phê bình để rồi từ đó ông trở nên một cây bút phê bình nghiêng về hướng chính luận. Trước đó, có thể là trong thời gian làm việc ở Tỉnh ủy Nghệ An, Hoàng Trung Thông đã cho xuất bản cuốn Xô viết Nghệ An.
Sau này, những bài bàn về văn học của ông được tác giả soạn lại, đưa vào hai tập sách: Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961) và Cuộc sống thơ, thơ cuộc sống (1979). Tác phẩm phê bình của Hoàng Trung Thông vừa giầu xúc cảm của một tác giả sáng tác lại vừa có tính định hướng rộng về tư tưởng của một người quản lý và kiến thức uyên thâm của một thầy đồ Xứ Nghệ cần cù học hỏi.
Khi Hoàng Trung Thông về Viện Văn học và làm việc mười năm, ông đã đưa viện trở lại thế ổn định, tạo mối quan hệ tốt giữa Viện Văn học và Hội Nhà văn Việt Nam. Hoàng Trung Thông am hiểu Hán học, sử dụng tốt tiếng Hán. Ông là dịch giả thơ Đường có hạng. Ông cũng dịch một số tác phẩm Liên Xô. Ông còn là tác giả thư pháp chữ Hán tiêu biểu, là tác giả của những câu đối, vế đối được lưu truyền. Với bút danh Đặc Công (dùng cho thơ đả kích địch), Bút Châm (dùng cho thơ châm biếm nội bộ), Hoàng Trung Thông cũng là cây bút quen biết một thời sử dụng tốt thể loại đả kích - châm biếm.
Ông còn có bút danh Hồng Vân. Sáu mươi tám tuổi đời, bốn mươi tám năm hoạt động văn nghệ và sáng tác, nhà thơ Hoàng Trung Thông là một nhân cách văn học, một tên tuổi đa tài đáng nhớ trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

Phạm Đình Ân

Bình luận (0)