Có lẽ ông là người có nhân dạng ổn định nhất trong các nhà thơ Việt Nam. Nếu chỉ nhìn vào khuôn mặt với đôi kính trắng gọng đen bình yên ấy sẽ chẳng thấy những thăng trầm khổ đau, những loạn ly trận mạc. Cái tuổi 83 dường như bất lực để người ta vẫn thấy một Giang Nam bình thản trước thời gian, bình thản trước mọi biến chuyển vân vi của cuộc đời… Nếu như nhìn những bức ảnh của ông ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời sẽ có cảm giác dường như không thấy sự vận động của thời gian. Từ cái thời thanh niên trên căn cứ Đá Bàn hay tấm hình chụp chung với nhà thơ Thanh Hải, hay tấm hình chụp với anh em ở cơ quan Hội Văn nghệ Giải phóng, và gần nhất là những tấm hình chụp ở Hong Kong, những tấm hình dự Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới… Tất cả vẫn là hình dáng thư sinh nhỏ nhắn với đôi kính trắng gọng đen. Căn nhà số 46 Yersin còn giữ nguyên thiết kế từ thời Pháp nằm giữa Thành phố Nha Trang yên bình. Không cửa hàng cửa hiệu, chỉ có những nan sắt của hàng rào suốt một đoạn vỉa hè dài như trước một công sở. Những giò lan, chậu cảnh choán hết không gian tạo thành một khu vườn nho nhỏ. Sau những giò lan ấy là thư phòng. Ông ngồi bình yên trước mái hiên với một kệ sách kê tận dụng ngay ở sảnh cùng một bộ bàn ghế mây giản dị. Cái khung cảnh ấy dễ cho một liên tưởng về một sự an nhàn của một nhà thơ từng giữ chức phó chủ tịch tỉnh. Và cũng dễ liên tưởng rằng đó là một ân lộc của những tháng năm làm quan cách mạng. Nhưng không. Đây là căn nhà mà vợ ông mua lại của một viên chức chế độ cũ từ ngày mới giải phóng Nha Trang. Bà cũng là một chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt vào tù 2 lần và nguồn cơn để ông viết nên bài thơ “Quê hương” nhiều thế hệ học trò thuộc lòng từng câu từng chữ: Cứ mỗi ngày hai buổi đến trường / Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ / Ai bảo chăn trâu là khổ? /Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao… Mối tình tử biệt sinh ly Ông bà gặp nhau tại Đá Bàn - căn cứ địa cách mạng của Khánh Hoà những năm kháng chiến. Gia đình bà khi đó có nghề làm mắm gia truyền tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia cách mạng. Còn nhỏ tuổi nhưng cô gái Phạm Thị Triều đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Đồng Bò, gia đình lo sợ cho người nhắn gọi cũng không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà được điều lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy. Còn ông, từ huyện Ninh Hoà cậu bé Giang Nam ra Quy Nhơn học bậc cao đẳng tiểu học ở trường Quốc. Khi Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, ông gánh theo sách vở trở lại quê nhà tham gia công tác của xã phụ trách công tác thiếu niên và thông tin tuyên truyền. Xã Vạn Thắng của ông ngày ấy trong tình trạng “ngày địch đêm ta”. Các anh trai đều đã lên căn cứ hoạt động cách mạng, cha ông khi đó nói với các con rằng: “ Chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên”. Và cậu con trai út, em của Giang Nam được giao lãnh trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha ông đành gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng vào cứ với các anh. Cha ông bảo, “thôi bay đi đi chứ ở nhà để tau trông thấy bay bị bắt lính cũng không đành”. Thế là cả bốn anh em trai đều lên đi theo cách mạng. Riêng Giang Nam, khi làm trưởng ban thông tin của xã đã thường viết thơ văn gửi cho báo “Thắng” là tờ báo kháng chiến của Khánh Hoà, cũng là tờ báo kháng chiến đầu tiên của vùng Nam Trung bộ. Cũng nhờ viết thơ thường xuyên mà tỉnh đã có công văn xin ông về Ty Thông tin tham gia làm báo “Thắng”. Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời Giang Nam để rồi ông đã gặp bà. Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng, ông bà quen biết nhau, tuy “tình trong như đã” nhưng chẳng ai dám ngỏ lời. Chuyện yêu đương trong tổ chức ngày ấy là một cấm kỵ. Khi ông có tên trong đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thành lập sắp lên đường ra Bình Định tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết hiệp định Genève giữa ta và Pháp, tổ chức mới gợi ý để ông bà làm đám cưới để có sự ràng buộc mà “giữ được nhau”. Ở với nhau được hai đêm thì ông lên đường ra vùng tự do theo thoả thuận, bà từ căn cứ trở về Nha Trang. Từ đó là những tháng ngày ly biệt mặc dù sau đó ông được giao nhiệm vụ trở lại hoạt động trong lòng địch với bí danh Tư Gương. Khi chia tay, ông bà và đồng đội hy vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần hiệp định, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày về. Ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang, được đưa vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động. Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng ông bà hoạt động ở 2 tuyến khác nhau, không được gặp mặt, ông luôn phải cảnh giác giữ bí mật, ngoài lính tráng, công an mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ nguồn gốc. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi “Gió mới” hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Dưới vỏ bọc một công nhân xưởng cưa, Giang Nam đều đặn viết bài tuyên truyền cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên... Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng” cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để Giang Nam và vợ ông chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. Đây cũng là lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau ông bà mới có điều kiện ở bên nhau. Hai vợ chồng thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo, ông làm công cho một tư sản thầu khoán người Việt, bà buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chờ lệnh của trên, nhiệm vụ lúc này là dựa vào quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt, bị hy sinh. Đó cũng là thời gian bà sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất của ông bà sau này. Rút niềm đau viết “Quê hương” Một thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút Giang Nam về lại Khánh Hoà. Bà Triều ở lại một mình nuôi con, đứa con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà phải lấy chiếc áo của ông để đắp cho con đỡ khóc theo lời bà chủ cho thuê nhà tốt bụng. Nghe bà chủ nhà hỏi về người chồng bỗng dưng vắng mặt, bà Triều phải nuốt nước mắt vào trong nói dối rằng ông lên Buôn Mê Thuột làm vì nghe nói trên đó trả lương rất h