VHSG- Hồi ấy, anh là thợ gò trong xưởng cơ khí. Hải Phòng ngày ấy đã loáng thoáng những chiếc xe đạp mi-ni Nhật và đôi ba chiếc xe máy Súp-pe Cúp phóng lượn lờ trên đường phố. Những quán cà phê vỉa hè, người ta uống cà phê đá đặc quánh trong những chiếc cốc vại to tướng. Mấy hàng bánh đa cua ăn cùng rau ghém và bánh mỳ đũa dài, nhỏ như chiếc đũa cả. Nhưng vị thế nhà thơ ngày đó rất cao sang. Nhà thơ Thanh Tùng Tôi hình dung trong dòng người thợ tan tầm, áo vắt vai, cởi trần, ngực nhễ nhại mồ hôi, có nhà thơ Thanh Tùng đi trong dòng người đó. Những bước đi chắc khỏe, vừa đi anh vừa nhẩm đọc những câu thơ đắm say : Một năm lá chưa úa Một năm nắng chưa già Gió vẫn đầy ngõ hẹp Sao ta còn lạ ta… Nhà thơ cuốc bộ từ xưởng máy của mình tới văn phòng một cơ quan đón vợ. Chị Thanh Nhàn ngày đó là cô gái đẹp kiêu sa của đất Cảng. Dù đời sống nghèo khó, họ cuốc bộ đi làm, nhưng tâm hồn họ thật giàu có và tôi thấy cái làm cho họ vững tin và tự hào, đó là thơ. Nàng thơ vốn mong manh và đỏng đảnh, có khi còn yếu đuối và phù phiếm, ấy vậy lại là tín hiệu để họ đến với nhau và nối chặt hai trái tim vừa nồng nhiệt, vừa tổn thương lại gần nhau. “Anh đi qua những tháng ngày nham nhở”… Bạn bè văn thơ Hải Phòng vẫn thường đọc câu thơ về tình yêu của họ. Mối tình của họ chỉ có thơ mới lý giải nổi. Đó là cái nhìn sét đánh phút ban đầu gặp gỡ. Đó là những vần thơ cuồn cuộn và hầm hập anh đọc cho chị nghe trước đám đông bạn bè. Đó là những buổi chạy bộ hơn mười cây số từ Hải Phòng xuống Kiến An để anh chỉ cần được nom thấy chị, cầm tay chị tại nơi chị làm việc, rồi lại chạy gằn về Hải Phòng. Sắc đẹp của chị là niềm tự hào của anh. Chị là người phụ nữ trời phú cho sắc đẹp rực rỡ như bông hoa nở đẹp lâu tàn. Sắc đẹp và số phận ba đào chị đã đi qua và bỏ lại sự giàu sang nhung lụa, bỏ lại cả sự đắm say cuồng loạn phiêu liêu, bỏ lại cả những đứa con xinh đẹp như những thiên thần bé nhỏ, để quyết đi theo anh. Hỏi còn có gì hơn trái tim yêu mãnh liệt và nàng thơ mê muội đôi người?! Chị Nhàn rất yêu thơ. Thuở nữ sinh, chị cũng có làm thơ, từ ngày về làm vợ nhà thơ Thanh Tùng, chị thôi không làm thơ nữa. Tài thơ của Thanh Tùng làm chị choáng váng, chị nguyện làm người nội trợ chăm sóc, nuôi con và nuôi cánh chim thơ mộng mơ của chồng cất cánh bay xa. Những năm chiến tranh phá hoại, đấy là căn nhà hạnh phúc và đầy ắp cảm xúc tình yêu, mặc dù họ rất nghèo. Tình yêu của họ đã làm bao kẻ giàu sang của phố Cảng phải ngưỡng mộ. Bạn bè văn thơ ở Hải Phòng lấy căn phòng Thanh Tùng làm địa điểm gặp gỡ. Anh em viết lách từ Hà Nội xuống, từ Quảng Ninh về vẫn lấy nơi đó làm chốn đi về. Những vần thơ đắm say được đọc giãi bày từ đó. Những trang văn thấm đẫm mùi dầu mỡ, và cũng đầy mơ mộng trùng khơi được đọc ở đây. Thanh Tùng trở thành cây bút xuất sắc của Hải Phòng dạo đó. Nói về văn học công nhân là phải nói tới Thanh Tùng. Ngoài mảng thơ đề tài công nghiệp, anh có những bài thơ tình yêu đến bỏng rát và si mê. Cũng như nhiều nhà thơ các nước khác, Thủ đô vẫn là nơi cuốn hút họ. Thanh Tùng cũng thật gắn bó với Hà Nội. Sau phút lao động hết mình ở xưởng cơ khí, sau phút xếp hàng xách nước về cho vợ con tắm giặt, sau khi xem thùng gạo trong bếp vẫn còn lưng lửng, anh lại nhảy tàu lên Hà Nội. Những trụ sở các tờ báo văn chương, những nhà xuất bản, những bạn bè văn thơ…, và nhất là thiên nhiên Hà Nội làm anh ngất ngây. Những giọt sương ướt đầm bên hồ, những làn hơi thu mong manh và bảng lảng. Những vòm cây xanh đặc đã mê hoặc anh khi nào không hay. Một dạo lên Hà Nội, anh thường hay lui tới nhà tôi. Tôi còn nhớ đợt anh chuẩn bị đi dự Ngày Hội thơ thế giới tổ chức ở hòn đảo thơ mộng của châu Âu. Đi cùng anh đợt đó có nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm có gia đình ở Hà Nội, chuẩn bị khá chu đáo đồ đạc tư trang trước khi đi. Thanh Tùng chỉ xách cái túi xách nhỏ có chứa bộ quần áo nát nhầu. Ái ngại trước sự sơ sài đó, cả nhà tôi xúm vào chuẩn bị cho anh. Con gái tôi lấy bàn là là phẳng phiu quần áo cho anh. Nhà tôi lên gác lấy cái va ly nhỏ để anh xách đi cho tiện. Thanh Tùng vụng về, ngượng nghịu cười, nói : “Tôi tưởng đi liên hoan thơ thì chỉ cần chuẩn bị thơ thôi chứ?”. Đương nhiên, thơ anh đã chuẩn bị rồi. Mấy bài thơ anh đã nhờ người bố của anh dịch ra tiếng Pháp, rồi mấy đêm, anh cứ đọc đi đọc lại. Tôi chả hiểu anh đọc có sai ngữ pháp không, nhưng nghe giọng anh đọc, thấy say đắm và cuốn hút lắm. Sau khi dự Liên hoan Thơ quốc tế trở về, anh khoe tôi là cả hội trường thơ bắt anh đọc đi đọc lại tới ba lần. “Tôi đã đọc thơ bằng tiếng Việt, rồi đọc bằng tiếng Pháp. Họ nghe sướng lắm!”. Tôi hỏi: “Đọc thơ bằng tiếng Việt thì họ hiểu sao được? Còn đọc thơ bằng tiếng Pháp, anh có đọc chuẩn không?”. Anh hùng hồn trả lời: “Tôi đọc thơ bằng gan ruột tôi. Tôi diễn đạt thơ bằng âm điệu của tôi, bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi. Tôi dùng sự đắm say để lôi cuốn người nghe tới bờ bến mê man của thơ Việt!”. Có thể anh nói hơi quá, nhưng tôi tin là tình yêu đắm say và trong trẻo của anh với thơ. Tình yêu ấy đã dẫn dắt và mở đường giao lưu cho anh đến với mọi người. Dạo đó, anh lãng đãng yêu một nhà thơ nữ trẻ Hà Nội. Có lẽ lòng yêu thơ đã dẫn đường cho tình yêu mơ mộng và viển vông. Bữa ấy, đã nửa đêm, sau khi đi gặp gỡ bạn bè thơ, anh về gõ cửa nhà tôi. Rồi anh rón rén tới điện thoại bàn gọi cho… “nàng thơ”. Dáng anh to lớn, vạm vỡ, ấy thế mà khi cầm điện thoại lên gọi, tôi thấy có cái gì rụt rè, non tơ rất đáng yêu. Anh nói chuyện rất dài với nhà thơ nữ trẻ ấy không cần giấu giếm tôi. Tôi tế nhị lảng đi chỗ khác để anh tự nhiên. Rồi anh đọc thơ, giọng thơ quặn thắt trước ống máy điện thoại : Bây giờ anh đi giật lùi Anh chỉ còn một nửa Một nửa ở phía không em… Nhìn khuôn mặt anh trào lên cảm xúc, tôi hình dung khuôn mặt người con gái ở đầu dây kia cũng ngẩn ngơ xúc động. Nhưng có lẽ đó chỉ là tình yêu đơn phương mà thôi. Người con gái kia còn quá trẻ. Có thể nói cô cũng rất phục thơ anh, nhưng yêu anh làm sao được, khi cuộc sống hiện tại còn có quá nhiều điều hấp dẫn. Anh kể lại, có lần tới nhà tìm thăm, cô đi vắng. Anh ngồi chờ. Mẹ cô là c