(Người về thăm quê hương Kim Liên -Nam Đàn). “Quê hương nghĩa trọng tình cao Năm mươi năm ấy biết bao là tình!” Ngày 16-6-1957, Người về thăm quê hương Kim Liên (Nam Đàn). Hôm ấy, Người bận bộ ka ki, đi đôi dép cao su giản dị. Khi về đến quê, lãnh đạo xã mời Bác về nhà khách nghỉ, Bác cười đôn hậu: “Nhà khách là để tiếp khách, còn tôi là chủ, để tôi về thăm nhà” . Nói rồi Bác đi nhanh về hướng nhà mình. Mọi người đưa Bác đến trước một cái cổng, Bác bần thần dừng lại một hồi, rồi bất chợt nói: “Cổng ngày xưa ở chỗ kia” . Ngay bên cạnh cổng có ghi một tấm bảng nhỏ “Nhà Bác Hồ” , thấy vậy Bác quay sang mọi người, hóm hỉnh: “Đây là nhà của Cụ Phó Bảng chứ có phải nhà Bác Hồ đâu” . Bác đứng lặng ngoài sân một hồi rồi bước vào nhà. Người đứng trước bàn thờ gia tiên rồi nói với mọi người mà như nói với mình: “Hồi xưa nhà Bác nghèo. Bàn thờ chỉ làm bằng tre, không có chân mà chỉ dùng hai thanh gỗ đóng gá vào hai bên cột để đỡ bàn thờ lên, liếp bằng nứa”. Bước vào gian nhà trong, nhìn tấm phản ngày xưa Bác và cụ Cả Khiêm thường nằm, Bác thốt lên: “Ồ, bộ phản này vẫn còn, bà con giữ tài thật, nhưng hình như nó ngắn hơn thì phải?” . Bà con thưa với Bác: Trước khi cô Thanh chị của Bác bị thực dân Pháp bắt, tấm phản này được cho một người bà con sử dụng. Mùa đông, trong khi đốt lửa sưởi ấm vô tình bị cháy một đầu, nên phải cưa bớt đi. Khi trở ra ngoài sân, Bác nhìn quanh sân và vườn một hồi rồi nói với mọi người: “Ngày trước, ở ngay cổng có một cây ổi đào nhiều quả và rất ngọt. Trước sân đây là cây bưởi, bên đầu hồi nhà có cây cam, sau nhà có hàng cau đẹp” . Khi ra ngoài cổng, Bác đi đến bên một khóm chuối rồi dừng lại, chỉ vào một lối nhỏ hỏi: “Trong này có lò rèn của cố Điền, nay còn không?” . Cố Điền là người hiền lành, thật thà và vui tính. Những lúc rảnh rỗi Bác thường ra lò rèn chơi và thỉnh thoảng giúp cụ một số việc. Trong khi đến thắp hương tại nhà thờ Nguyễn Sinh, khi gần đến nhà thờ, Bác dừng lại hỏi: “Trong này có nhà cố Phương. Nay nhà cố có đủ ăn không?”. Nghe vậy mọi người đều nghẹn ngào, có người không cầm được nước mắt. Qua đó, ai cũng hiểu tình cảm Bác dành cho quê hương sâu nặng đến chừng nào. Như Bác đã bùi ngùi: “Quê hương nghĩa trọng tình cao/Năm mươi năm ấy biết bao nhiều tình”. (Bác Hồ thăm trại Nhi đồng Thành phố Vinh) Bác về thăm quê lần thứ hai ngắn lắm, chỉ trong 3 ngày, nhưng khi bàn về các điểm đi của Bác ai cũng ngạc nhiên. Về Kim Liên chỉ một buổi còn lại là đến với công nhân nhà máy cơ khí Vinh, nông dân trồng cây giỏi ở Vĩnh Thành (Yên Thành), nông trường chăn nuôi giỏi Đông Hiếu ở Nghĩa Đàn, rồi gặp gỡ các cụ lão thành, thăm trường sư phạm miền núi, làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An và nói chuyện với đại diện nhân dân trong tỉnh tại cuộc mít tinh chào mừng Người về thăm quê tại sân vận động thị xã Vinh. Sách báo đã viết nhiều về lần thăm quê thứ 2 (ngày 8-2-1961) và cũng là lần cuối cùng trong đời hoạt động của Người. Đây là chuyến thăm mà Người đã hứa với Đảng bộ và nhân dân quê hương trong chuyến thăm lần thứ nhất sau 50 năm xa cách (tháng 6-1957) là: nếu Đảng bộ và nhân dân làm tốt trong sản xuất, xây dựng và xây dựng Đảng thì Bác sẽ về thăm lần nữa. Là người làm báo mới ra trường, không được chọn vào đội ngũ phóng viên tháp tùng chính thức nhưng tôi đã cố xin để đi theo Người cả chuyến. Và những điều ghi nhận được, cho đến bây giờ dù đã lên lão nhưng với tôi như vẫn còn tươi mới, như mới xảy ra đâu hôm qua, hôm kia thôi. Đó là bài học công nông liên minh Bác dạy ở HTX nông nghiệp Vĩnh Thành và nông trường Đông Hiếu, đó là bài học đoàn kết, không ỷ lại, chung lo xây dựng quê hương ở xã Nam Liên. Đó là bài học về đãi ngộ và cống hiến, công bằng, “tre già măng mọc” nói với các cán bộ lão thành, đó là bài học về tổ chức cán bộ và xây dựng Đảng ở buổi làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ và bài học về đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh của nhân dân khi nói chuyện với đại diện đồng bào toàn tỉnh và học sinh trường sư phạm miền núi Nghệ An. Với cán bộ, công nhân nông trường Đông Hiếu, Bác dặn: Nông trường là làm nông nghiệp kỹ thuật cao, là điểm tựa của nông dân toàn tỉnh. Đã là điểm tựa thì cán bộ, công nhân nông trường phải giúp nông dân trong vùng và toàn tỉnh để phát triển tốt chăn nuôi, trồng trọt, thâm canh tăng năng suất. Với công nhân Nhà máy cơ khí Vinh, Người khuyên: là đứa con công nghiệp đầu lòng của tỉnh, là nơi sản xuất nông cụ phục vụ nông dân thì phải sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Nhanh, nhiều tốt là rất cần. Nhưng nông dân ta còn nghèo nên hàng làm ra đã tốt mà phải rẻ để bà con có tiền mua. Nếu nông dân dùng mà sớm hỏng thì phải sửa không mất tiền cho nông dân. Đó chính là liên minh công nông, là mối tình công nông thiết thực nhất. Ở nông trường Đông Hiếu, Bác đã chọn và tặng huy hiệu của Người ngay tại buổi nói chuyện cho 3 tấm gương tiêu biểu đã được tập thể công nhân bình chọn, đó là Nguyễn Văn Lang, tổ trưởng trồng trọt, Võ Trọng Tạo, tổ trưởng chăn nuôi và Trần Kim Mạnh, quản đốc. Bác nói: “Bác và Trung ương sẵn sàng thưởng nếu các cô, các chú thi đua làm kịp các chiến sĩ đó. Có “giao kèo” đấy nhé. Nếu các cô, các chú làm được như thế mà Bác không thưởng là lỗi tại Bác. Nếu Bác sẵn sàng thưởng mà các cô, các chú không làm được thì lỗi tại ai?” . Công nhân trả lời “Tại các cháu” . Bác hỏi có phải thế không? Có đồng ý như thế không? Cùng với tiếng “Dạ thưa Bác, đồng ý ạ” thì cả hội trường lại rộn lên, hướng về Người, ai cũng ngầm hứa phải làm thật tốt để sớm được nhận phần thưởng của Người. Bác Hồ chụp ảnh chung với cán bộ CNV Nông trường Đông Hiếu Bài học sâu sắc mà tôi khắc ghi trong lòng là quan điểm về đãi ngộ và công tác cán bộ của Người tại buổi nói chuyện với cán bộ cách mạng lão thành của tỉnh. Sau khi nói về công lao đóng góp của các đồng chí cán bộ lão thành cho thành công của Đảng, của Cách mạng, Bác nói: “Bây giờ sang phần thứ hai. Đây là những điểm nhỏ, tôi gom góp, nói để các đồng chí rõ” . Về đào tạo lớp trẻ, Người nói: “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đ