Người sáng tạo bếp Hoàng Cầm nổi tiếng

 
Đại úy Hoàng Cầm 1916 - 1996

Hoàng Cầm sinh năm 1916 ở xã Trực Đại huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, ông đã nếm mùi khổ cực dưới sự áp bức bóc lột thậm tệ của thực dân phong kiến nên năm 20 tuổi đã phải bỏ nhà lên thành phố kiếm ăn.

Năm 1936, ông theo một người trong họ lên Thái Nguyên buôn bán vặt nhưng không đủ sống. Hai năm sau, ông về Hà Nội làm thuê cho một hiệu giặt là; sau chuyển sang học nghề đầu bếp rồi làm thuê cho hàng cơm Văn Phú ở phố Hàng Lọng (đường Lê Duẩn ngày nay).

Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia tự vệ thành. Năm 1946, ông chiến đầu bảo vệ thành phố Hà Nội. Sau một lần bị thương, được điều trị khỏi, ông đưa gia đình tản cư lên vùng Tam Đảo sinh sống rồi cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp.

Đầu năm 1947, Quân y vụ khu Trung ương (Cục Quân y) thành lập An dưỡng đường trên Tam Đảo núi, ông xung phong vào làm việc và nhập ngũ từ đó. ông được phân công làm tổ trưởng cùng anh em thợ và nhân viên tích cực lao động tu sửa biến nơi nghỉ mát cũ của thực dân Pháp thành nơi an dưỡng của bộ đội ta. Khi có thương bệnh binh về điều trị, ông vốn có tay nghề đầu bếp nên được giao nhiệm vụ phụ trách việc cấp dưỡng cho Đoàn.

Cuối năm 1948, ông rời Khu An dưỡng đường về Quân y vụ công tác trong đội phẫu thuật tiền phương, lần đầu tiên được tham gia chiến dịch Đường số 3 (Bắc Kạn). Sau chiến dịch, ông được điều về phụ trách cấp dưỡng tại Quân y viện ở Mỹ Tranh.

Tháng 8/1949, Sư đoàn 308, sư đoàn chủ lực của quân đội ta thành lập; ông được chuyển về Đội điều trị, phòng Quân y của sư đoàn.

Thu Đông năm 1949, trong chiến dịch Biên giới, Hoàng Cầm khụ trách tổ cấp dưỡng tại một trạm vận chuyển thương binh ở Na Lang. Một số chị em dân công giúp việc là người dân tộc thiểu số không biết tiếng phổ thông, làm việc gì ông cũng phải vừa làm vừa ra hiệu để chị em hiểu mà làm theo. Điều kiện chợ xa, nhiều ngày không mua kịp thức ăn. Một lần, sắp chuyển thương binh mà chưa có gì ăn, nếu để chị em đi mua thì không về kịp, ông bèn chạy một mạch vào bản xa hơn 5 cây số cả đi lẫn về mất hơn một giờ, mua đủ thức ăn về kịp nấu phục vụ anh em ăn đúng thời gian chuyển đến địa điểm mớí. Một lần khác, trời mưa to, có lệnh cho thương binh ăn sớm để chuyển đi; ông phân công công việc cho từng người ở nhà rồi tự mình đi chợ cách 6-7 cây số. Khi qua suối, sợ lúc về nước đổ dồn to hơn, ông buộc sẵn một sợi dây nối hai bờ. Lúc về, ông bám theo sợi dây vượt lũ mà về; do đó, không chậm giờ mà thương binh vẫn được ăn uống đầy đủ theo quy định. Kết thúc chiến dịch Biên giới, ông được cấp một giấý khen và được Bác Hồ tặng thưởng một đồng hồ đeo tay.

Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch Đường số 18) mùa Xuân 1951 diễn ra ở một vùng có nhiều khó khăn về thực phẩm vì dân cư thưa thớt, chợ ở xa. Chị em dân công giúp việc chưa quen hành quân xa, mang vác nặng, tỏ ra rất mệt mỏi. Hoàng Cầm đã gần gũi động viên hoặc trực tiếp gồng gánh giúp đỡ họ.

Đến địa điểm mới, có lệnh gấp rút chuẩn bị mọi mặt để sau 5 ngày có thể tiếp nhận thương binh. ông họp đơn vị xác định trách nhiệm và nêu quyết tâm khắc phục khó khăn cho mọi người thi đua phấn đấu nên khi có thương binh chuyển đến, bộ phận cấp dưỡng đã kịp thời phục vụ đầy đủ, chu đáo.

Đợt hai của chiến dịch, công việc nhiều hơn, ông phải tổ chức thành hai tổ đi chợ và vào các làng mua thực phẩm mới đủ tiêu chuẩn thức ăn. Việc nấu nướng phải chuyển về đêm vì địa bàn trống trải, máy bay địch dễ phát hiện và ném bom, bắn phá. ông thường xuyên thức khuya để làm việc; trung bình mỗi đêm chỉ ngủ ba tiếng. Do làm việc quá sức, ông bị ốm, nói không ra tiếng, cấp trên cho nghỉ nhưng ông vẫn không nghỉ. Sau đó, cả trạm được chuyển về một bệnh viện ở hậu phương.

Ở bệnh viện này, việc cấp dưỡng kém, thương bệnh binh thường phải ăn cơm với cá khô, muối vừng, không kham nổi, nhiều bữa bỏ cơm. Trước tình hình này, ông tổ chức lại như đơn vị cũ của ông. Được giao 30 chị em dân công, ông hỏi han khả năng từng người rồi phân công cụ thể. ông ra chợ xem xét giá cả và cách thức chị em mua bán, sau đó họp mọi người hướng dẫn họ phân tán ra từng nhóm nhỏ, xem chợ nào rẻ thì mua, mua buổi sáng, mua cả buổi chiều. Vì vậy, đơn vị luôn đủ thực phẩm tươi sống mà giá cả phải chăng, đời sống thương bệnh binh ngày càng được cải thiện. Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Hoang Cầm được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Trở về đơn vị cũ ở Sư đoàn 308, ông được giao phụ trách một tiểu đội nữ cấp dưỡng. Trên có ý định cho ông đi học, nhưng thấy công việc bề bộn, tiểu đội mới thành lập chưa quen việc, ông tình nguyện ở lại công tác, sau này có điều kiện sẽ đi lớp khác.

Mùa hè năm 1951, ông tham gia chiến dịch Hà-Nam-Ninh (chiến dịch Quang Trung). Từ chỗ nấu cơm của đơn vị đến vị trí bộ đội đóng phải vượt qua một cánh đồng ngập nước. Hàng ngày, người gánh cơm phải nhờ vào thuyền của dân chở sang. Người lái đò thường chờ đến gần chiều mới đi vì đi sớm sợ máy bay địch phát hiện. Hoàng Cầm lo bộ đội ăn không đúng bữa đã tập chèo thuyền mấy buổi trưa liền; sau đó nguỵ trang như người dân đi làm bình thường hàng ngày rồi chèo thuyền chở cơm cho nên bộ đội ngày nào cũng được cơm nóng canh sốt đúng bữa.

Đông Xuân 1951-1952, trong chiến dịch Hoà Bình, Sư đoàn 308 chiến đấu trên hướng chính của chiến dịch dọc tuyến sông Đà từ thị xã Hoà Bình về Trung Hà (Sơn Tây). Đội phẫu thuật của Sư đoàn được bố trí gần địch hơn so với các chiến dịch trước. Vì vậy, việc bảo đảm bí mật hết sức quan trọng; nếu khi nấu nướng để lộ khói lửa là lập tức địch từ các vị trí Chẹ, Đá Chông, Thủ Pháp, Bất Bạt dội pháo tới hoặc gọi máy bay ném bom, bắn phá bất kỳ lúc nào. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất quyết liệt, thương binh của ta nhiều. Bộ phận phục vụ của Hoàng Cầm phải chia làm 2 tổ, bình quân mỗi ngày một người phục vụ trên 60 người. Ngày nào cũng vậy, anh chị em phải làm việc suốt ngày đến 12 giờ đêm. Nhiều lần thương đồng đội, Hoàng Cầm thức từ nửa đêm đến 4 giờ sáng nấu gần 100 kg gạo và làm xong thức ăn mới gọi mọi người dậy.

Đối với thương binh, tiêu chuẩn ăn lại phải chia ra ba loại theo thương nặng, thương vừa và thương nhẹ. Thức ăn phải có nhiều món và phải thay đổi thường xuyên. Dụng cụ cấp dưỡng thiếu, gạo củi có lúc hết, dân công chưa chuyển đến kịp; nhưng với tinh thần cố gắng hết mình, tổ vẫn đảm bảo chu đáo việc nuôi quân.

Có một việc đã từ lâu Hoàng Cầm trăn trở không nguôi. ông muốn làm một cái gì đó cho anh em được ăn nóng, uống nóng; có như vậy, chiến binh mới thêm sức chiến đấu dẻo dai, thương binh mới tăng cường dinh dưỡng, chóng phục hồi sức khoẻ. Qua nhiều ngày đêm suy nghĩ, ông bỗng nhớ việc đắp bếp nấu cám lợn ở quê nhà. Bà con thường dùng đất dẻo đắp bếp, Đắp to, đắp nhỏ tuỳ theo nồi nấu, hai bên bếp để hai lỗ thoát khói, nhiệt trong bếp rất tập trung mà ánh sáng không toả ra ngoài. Nhưng còn khói? Vấn đề cơ bản là làm sao triệt tiêu được khói; khói không bốc cao để máy bay địch không phát hiện được nơi nấu. Tiếp tục suy nghĩ, ông lại nhớ đến hồi nhỏ cùng các bạn chăn trâu hun chuột, khi hun phải đào hang rộng và dài ra, đưa rơm rạ vào đốt và quạt mạnh, khói luồn vào bên trong theo các ngóc ngách chuột đào rồi toả ra sau bờ ruộng. ông mang dụng cụ ra đồi làm thử nhưng thấy lửa vẫn hắt ra ngoài, khói còn bốc lên cao. ông làm đi làm lại nhiều lần, vừa làm vừa bàn vừa sửa với đồng đội. Mỗi người góp một ý. Kết quả đã ra đờì một cái bếp theo ý muốn: đó là bếp Hoàng Cầm.

Bếp Hoàng Cầm nấu được cả ban ngày ban đêm mà không sợ lộ khói lửa. Anh em thương bệnh binh và các chiến sĩ được ăn nóng, uống nóng; ai cũng phấn khởi. Bếp được nhanh chóng phổ biến và sử dụng rộng ra toàn quân và dân công hoả tuyến.

Với thành tích trên, kết thúc chiến dịch, Hoàng Cầm được bầu là chiến sĩ thi đua của Sư đoàn, được thưởng Huân chương chiến công hạng Nhì, được dự Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quân toàn quốc lần thứ nhất, được gặp Bác Hồ kính yêu.

Sau Đại hội, trên đường cùng đoàn anh hùng, chiến sĩ thi đua của Sư đoàn xuống các đơn vị báo cáo thành tích, ông được gặp Bác Hồ lần thứ hai, được nghe lời dạy bảo ân cần của Bác, ông thầm hứa với Bác sẽ nỗ lực công tác hơn nữa, cống hiến cho cách mạng nhiều hơn nữa để xứng đáng với lòng mong muốn và sự quan tâm của Bác đối với quân đội.

Cuối năm 1952, ông cùng đội phẫu thuật theo Sư đoàn hành quân lên Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai của ta giáp giới Thượng Lào.

Mùa khô năm 1953, đơn vị cấp dưỡng Hoàng Cầm theo sát phục vụ Sư đoàn 308 phối hợp với quân đội nước bạn Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng khoảng và Phong Sa Lỳ, góp phần xây dựng căn cứ kháng chiến vững chắc cho cách mạng Lào. Sau đó, cùng Sư đoàn về Thái Nguyên chỉnh huấn, chuẩn bị cho chiến cục Đông Xuân 1953-1954.

Sư đoàn 308 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ngay từ đầu xuân 1954. Đội điều trị của Sư đoàn được bố trí ở Hồng Lếnh, Hoàng Cầm cùng anh em trong đơn vị được nhiều lần đón thư Bác Hồ, thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp động viên. Trong điều kiện quân ta đánh trận địa bao vây lấn chiếm tấn công quân địch trong các cụm cứ điểm thì bếp Hoàng Cầm đã phát huy tác dụng to lớn. Dưới sự bắn phá ác liệt bằng máy bay, đại bác của địch, các bếp Hoàng Cầm ở tuyến trước, tuyến sau của bộ đội, của dân công vẫn hoạt động đều đặn, bảo đảm cơm nóng, canh nóng, nước nóng cho bộ đội, thương binh đầy đủ, chu đáo, góp phần vào chiến thắng chung của chiến dịch.

Kết thúc kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm được thưởng Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ và Huân chương Chiến thắng hạng Ba. Sau đó, được vinh dự đi trong đoàn quân Sư đoàn về tiếp quản thủ đô Hà Nội (10-10-1954).

Năm 1958, sau khi chỉnh biên, toàn quân bước vào học tập, huấn luyện, thực hiện xây dựng quân đội theo chế độ thời bình. Đồng thời thi hành chủ trương giảm quân số, giải quyết cho hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đã qua thử thách chiến đấu, phục viên về gia đình, chuyển ngành tham gia xây dựng công nông lâm trường, củng cố hậu phương. Hoàng Cầm được ra quân đầu năm 1959 với quân hàm thiếu uý. Đông đảo bà con Tam Đảo xuống tận Gốc Gạo (cây số 20 đường Vĩnh Yên Tam Đảo) long trọng và thân tình đón ông về.

Về địa phương, Hoàng Cầm chưa là đảng viên nhưng đã tiếp thu tốt sự giáo dục của Đảng và phát huy được truyền thống bộ đội cụ Hồ, vừa hăng hái lao động sản xuất cải thiện đời sống gia đình, vừa tích cực nhiệt tình công tác cơ sở.

ông đã tham gia 6 khoá Hội đồng nhân dân, Uỷ viên MTTQ, hội viên Hội Cựu chiến binh thị trấn Tam Đảo. Đặc biệt, trong cương vị uỷ viên Ban quản trị HTX mua bán phụ trách nghề phụ, ông rất cần cù, có nhiều sáng kiến, làm được nhiều việc có lợi cho dân. Trong những năm chống Mỹ cứu nước gian khổ khó khăn nhất, ông cùng Ban quản trị tổ chức thu mua dược liệu, su su, bầu bí của xã viên cung cấp cho Mậu dịch để cân đối lấy lương thực. Ba năm 1973-1975, tổ chức sản xuất và vận chuyển 12 tấn que kem bán cho Nhà hàng Thuỷ Tạ Hà Nội lấy tiền đong gạo cho xã viên. ông còn cùng xã viên xuống Xí nghiệp ép dầu Ngoại Trạch (Bình Xuyên) học kỹ thuật và mua khô dầu lạc về chế biến nước chấm cho bà con dùng, không phải ăn muối trắng.

Kết thúc kháng chiến chống Mỹ, Hoàng Cầm được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Hai. ông còn được thưởng 3 Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhât, Nhì, Ba và nhiều bằng khen các cấp. ông chỉ thực sự nghỉ hoạt động khi bước sang tuổi 78. Hai năm sau, ông mất ngày 12/3/1996 tại Quân y viện 108, thọ 80 tuổi. Sau ngày mất, ông được thăng quân hàm Đại uý.

Tên tuổi và công trạng của Đại uý Hoàng Cầm được Viện Bảo tàng lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam lưu giữ làm gương cho hậu thế noi theo.

Những ai lên Tam Đảo núi hãy nghiêng mình tưởng nhớ một con người đáng kính, người cha đẻ của Bếp Hoàng Cầm nổi tiếng, đang yên nghỉ đời đời nơi bồng lai tiên cảnh này!

Mộ ông đặt dưới vòm thông
Chung chiêng Tam Đảo, bềnh bông võng trời 
Bếp Hoàng Cầm lửa tắt rồi
Bữa cơm trận mạc ven đồi vẫn thơm…

Nguyễn Xuân Lân

 

Bình luận (0)