Người "khai sinh" ra cờ thiêng Lũng Cú Cột cờ Lũng Cú đã trở thành biểu tượng thiêng liêng nơi cực Bắc của Tổ quốc. Bất cứ một người nào, khi đặt chân đến Cao nguyên đá Hà Giang này, điểm muốn đến đầu tiên chính là cột cờ Lũng Cú, để tận mắt chiêm ngưỡng lá cờ rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em tung bay trong nắng gió của miền biên viễn Tổ quốc. Nhưng mấy ai biết được, để có biểu tượng thiêng liêng này, ngoài sự góp công góp sức của 4 dân tộc anh em là Mông, Lô Lô, Dao, Giáy thì có một người được coi là có công nhất. Ông là người đầu tiên có ý tưởng và là người "khai sinh" ra chiếc cột cờ đầy huyền thoại này. (Hát về Hà Giang quê hương - Cầm Phong) Là người có chức có quyền một thời, con cái đều phương trưởng cả nhưng ông Hùng Đình Quý lại không chọn cách sinh hoạt hiện đại. Ông không ở nhà xây, mà chọn một mảnh đất rất nhiều đá, toàn đá tai mèo bên rìa thị xã làm chốn định cư và dưỡng già. Ông Quý sinh năm 1937 tại xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ. Quê ông ngày ấy nghèo lắm. Vì nghèo nên mãi đến năm 12 tuổi ông mới được đi học. Lúc này, để giữ vững phên dậu phía Bắc của Tổ quốc, tuy Pháp vẫn thống trị nhưng cán bộ Việt Minh đã được cử lên. Ngoài hoạt động cách mạng, vận động người dân đi theo Đảng ông còn dậy chữ cho dân. Ông bảo dân vùng Cao nguyên đá của ông hồi ấy gần như bị mù chữ hoàn toàn, từ già cho đến trẻ. (Lễ khánh thành thông xe 12-8-1978) Ông vẫn nhớ người thầy đầu tiên của đời ông. Người thầy ấy có tên là Lê Minh, nhà ở tận phố Hai Bà Trưng, Hà Nội. Ngày ấy, đường từ Hà Giang lên Quản Bạ chưa có xe. Thầy Lê Minh đã chân trần, khoác ba lô đạp đá mà leo lên. Thầy lên, mở lớp tại hang đá Bản Thang, Tùng Vài rồi tìm những đứa trẻ nhanh nhẹn gọi chúng đến lớp. Ông Quý bảo, thú thực nếu không có sự tận tâm, hy sinh của thầy Lê Minh thì Hà Giang sẽ khó có những lãnh đạo sau này, trong đó có ông. Bằng quá trình phấn đấu của mình, 37 tuổi ông đã đảm nhiệm cương vị Phó chủ tịch thường trực ở một huyện phên dậu, đa sắc tộc, nghèo khó nhưng có một vị trí vô cùng quan trọng ở phía Bắc Tổ quốc. Ngoài bản chất một người nghèo, tự học, tự đọc rồi thành đạt, ông Quý còn nổi tiếng và trở thành người đi tiên phong trong xóa bỏ rào cản hôn nhân giữa người Mông và người Lô Lô. Ngày xưa, trên Cao nguyên đá Hà Giang, người Mông và Người Lô Lô vẫn giữ quan niệm hôn nhân đồng tộc. Nghĩa là người Mông chỉ lấy người Mông và người Lô Lô chỉ được kết hôn với người Lô Lô. Đứng trước định kiến này, ông Quý nhận thấy, nếu cứ giữ quan niệm như vậy sễ dẫn đến sự không mở rộng được đoàn kết giữa các dân tộc trên Cao nguyên đá với nhau, nhất là người Mông và người Lô Lô. Hơn thế nữa, vì người Lô Lô là bộ phận dân tộc ít người nhất ở Đồng Văn (hiện nay người Lô Lô ở bản Lô Lô Chải mới có 81 hộ, khoảng 300 nhân khẩu). Nếu cứ giữ quan niệm ấy thì người Lô Lô sẽ dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển giống nòi sau này. Phải phá bỏ quan niệm và định kiến này, và ông Quý đã là người đầu tiên thực hiện. (Sơn nữ Lô Lô Hà Giang) Muốn xóa bỏ được, mình phải là người tiên phong dẫn đầu. Không nề hà, ông Quý đã thường xuyên tìm xuống với các bản có người Lô Lô. Và sau đó, ông đã yêu và kết hôn với người phụ nữ Lô Lô, trở thành người Mông đầu tiên lấy vợ Lô Lô ở cao nguyên đá, làm tiền đề cho các cuộc hôn nhân ngoại tộc sau này của người Lô Lô. Các con ông đều mang trong mình 2 dòng máu Mông – Lô, ai cũng thông minh và thành đạt. Riêng 3 cô con gái được coi là những hoa khôi của miền Cực Bắc. "Khai sinh" ra cờ thiêng Lũng Cú Để hoàn thành con đường lên "nóc nhà huyền thoại Tổ quốc" này, sau khi nhậm chức Phó chủ tịch thường trực huyện Đồng Văn ông đã để tâm đến rất nhiều. Ông đã nghĩ nhiều về "nóc nhà" thiêng liêng kia. Phải làm bằng được con đường lên đó thì Tổ quốc, mới được thông một dải từ mũi Cà Mau lên Cực Bắc. Bên cạnh đó, còn là việc tạo ra giao lưu của các xã cuối cùng này với các vùng miền khác. Chẳng ngờ, cái việc làm đường lên nóc nhà Tổ quốc này lâu nay cũng là ý muốn của hầu hết người dân. Được người dân ủng hộ, công việc hết sức suôn sẻ và thuận lợi. Ngày 12-8-1978, tuyến đường này đã được khánh thành. Về chiếc cột cờ huyền thoại, ông Quý bảo trước đây đã có một lá cờ cắm. Nhưng do thấy lá cờ ấy chưa xứng tầm với vị trí của nó tại vùng "tột Bắc" này. Dứt khoát phải có một cột cờ cao hơn, lá cờ to hơn để cắm ở vị trí tiền tiêu này. Ý định ấy cứ nung nấu trong ông. (Cột cờ Lũng Cú được xây dựng mới) Để có một cột cờ to lớn, để có một ngày khánh thành tuyến đường đáng nhớ này, ông Quý đã quyết định cắt cử 20 thanh niên khỏe mạnh nhất của xã Lũng Cú vào rừng tìm chặt một cây thông Sa mộc lớn nhất, với tiêu chuẩn đường kính 20cm, chiều cao 12m khiêng về. Khi có chiếc cột cờ rồi, việc nữa là may cờ. Sau một hồi suy tính, ông làm đơn đề xuất may một lá cờ cho phù hợp với chiếc cột cờ. Lá cờ to bao nhiêu, rộng bao nhiêu cho phù hợp đây? Sau hồi suy tính, ông chợt le lói một ý tưởng: Đất nước mình có 54 dân tộc. Vậy ta sẽ may một lá cờ rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Khi đề xuất ý tưởng này, ông được rất nhiều người ủng hộ. Và tuyệt vời hơn thế nữa, khi thử trải diện tích 54m2 trên giấy để vẽ thử thì các ông đã có chiều dài lá cờ là 9m, chiều rộng là 6m, một tỷ lệ hết sức phù hợp trong hội họa. Và từ ý tưởng đầu tiên của ông Hùng Đình Quý, lá cờ mang nhiều ý nghĩa này đã tung bay cùng nắng và gió nơi vùng cực Bắc của Tổ quốc. Tính đến nay, theo thời gian, đã nhiều lần cột cờ Lũng Cú được thay đổi. Từ cột cờ gỗ, sang cột cờ sắt, rồi cột cờ xây vào năm 2002. Và mới đây, được sự đồng ý của Chính phủ, 1 cột cờ hiện đại được xây dựng, với tổng chi phí 21 tỷ đồng đã được khánh thành. Mọi thứ đều thay đổi nhưng riêng vị trí và diện tích lá cờ do ông Hùng Đình Quý "khai sinh" ra ban đầu, cách đây 32 năm vẫn còn giữ mãi. Việt Báo (Theo Đại Đoàn Kết)