Đại tá Bùi Quang Thận Đại tá Bùi Quang Thận đã qua đời đột ngột sáng ngày 24-6-2012 tại Thái Xuân, Thái Thụy, Thái Bình, khi mới tròn 64 tuổi. Tang lễ đã cử hành tại làng quê anh, theo đúng thủ tục của người dân quê. Trước đây, anh cũng đã từng được đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng theo Bùi Quang Thận, khi làm các thủ tục để xét thì địa phương không đồng ý, vì ông bố anh có biểu hiện mê tín dị đoan. Huyện đội cũng đã can thiệp nhưng vẫn không xong. Anh bảo: “Kể thì cũng hơi buồn. Nhưng mình sống được đến giờ cũng là may mắn lắm, nếu so với những đồng đội của mình còn nằm lại trong các cánh rừng lạnh lẽo mà đến bây giờ cũng vẫn chưa tìm được hài cốt” . Năm 2000, Bùi Quang Thận về hưu. Anh cười hiền lành: “Mình xa vợ con biền biệt. Bây giờ mới có điều kiện giúp đỡ vợ con”. Bùi Quang Thận trở về với ruộng đồng. Anh lao động cật lực như một lão nông. Gần đây, ngoài làm ruộng, anh còn thuê ao, nuôi tôm, thả cá. Rồi vợ chồng anh mở thêm cửa hàng bán ga ở quê. Nhà nào hết ga hay van ga hỏng là anh có mặt thay ga và bảo hành sửa chữa. Anh bảo, thay một van ga hỏng, cái lớn được 5000, cái nhỏ cũng 500 đồng đấy. “Toàn tiền tươi thóc thật cả!” . Trông anh thợ ga xởi lởi, thật thà, tận tụy và tốt bụng, không ai nghĩ đó là người anh hùng không có trong Danh sách những người anh hùng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe tăng, lấy lá cờ giải phóng trên xe của mình cắm lên cột cờ trên nóc dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30/4/1975, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Có lẽ trong chúng ta, ai cũng biết anh đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ trận mạc trên nóc Dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30-4-1975. Nhưng xung quanh việc cắm cờ này, còn có khối điều thú vị mà không phải ai cũng có thể biết hết. Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có... hai bàn tay không. Câu chuyện bắt đầu từ lúc 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Khi đó, trận đánh đã diễn ra căng thẳng và khốc liệt. Lữ đoàn trưởng Nguyễn Tất Tài lệnh cho đại đội 4 ở phía sau vượt lên, chiếm đầu cầu, rồi chớp thời cơ, chọc thẳng vào mạng sườn địch. Bị cú đánh bất ngờ, địch thoáng chững lại. Đội hình chúng có phần nhốn nháo. Xe tăng ta tiến đến đầu cầu Thị Nghè thì bất ngờ mấy chiếc tăng địch chẳng biết ở đâu lù lù hiện ra. Hình như chúng muốn chặn ta ở ngay trên cầu. Đại đội trưởng Lê Tiến Hùng, chỉ huy chiếc xe tăng thứ hai bị thương, bắt buộc phải dừng lại. Tình thế khá nguy cấp. Bùi Quang Thận tức tốc cho xe 843 vượt lên, bắn cháy liền một lúc cả hai xe M.41 và M.113 của địch. Trong xe anh chỉ còn duy nhất 2 viên đạn. Sau này, anh mới biết hai viên đạn thối. (Xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 Thực tình, lúc đó, chiếc xe đã hết đạn, mà chặng đường còn rất xa, phải vượt qua bao tuyến phòng thủ kiên cố dày đặc của địch, chúng tôi tiếp tục truy kích địch ở trường sĩ quan Thủ Đức và cầu Sài Gòn, tiêu diệt một số tàu của địch trên sông Sài Gòn. 9 giờ sáng, tôi ngồi trên xe tăng số 843, chỉ huy Đại đội 4 vượt cầu Sài Gòn, tiến về Ngã tư Hàng Xanh. Sau khi tiêu diệt một số xe tăng, thiết giáp của ngụy, đoàn xe tăng của đơn vị chúng tôi tiến thẳng về hướng dinh Độc Lập. Thấy cổng dinh đóng, tôi ra lệnh bắn vào cổng dinh nhưng đạn lại không nổ. Tôi liền ra lệnh quay nòng pháo rồi húc vào trụ trái của cổng chính nhưng húc đến lần thứ ba mà cổng dinh Độc Lập vẫn không hề lay chuyển. Liền lúc ấy, xe 390 do đồng chí Vũ Đăng Toàn (Chính trị viên Đại đội 4) chỉ huy lao vào húc đổ cổng dinh nên cả hai xe đều lao thẳng vào trong sân. Do ông Thái và giáo sư Tòng đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi ông đề nghị dẫn đường thì ông Thận liền đi theo. Đến nóc, cả 3 người phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Lá cờ giải phóng được kéo lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên chào mừng vang trời. (Trước bậc thềm vào Dinh ) "Thật ngẫu nhiên, vào thời điểm lịch sử ấy trên nóc dinh Độc Lập có 3 chàng trai của 3 miền đất nước: anh bộ đội Thận từ đồng bằng sông Hồng, giáo sư Tòng quê Tây Ninh và tôi gốc ở một thành phố miền Trung. Anh em xúc động không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện", ông Thái nhớ lại khoảnh khắc chấm dứt những năm thống trị của thực dân đế quốc. Lên chỗ cột cờ, tôi nhanh chóng hạ cờ của ngụy quyền Sài Gòn rồi kéo cờ Giải phóng lên. Kéo lên được một đoạn, không hiểu nghĩ thế nào, tôi lại hạ xuống, lấy bút ghi dòng chữ “11h30 ngày 30.4- Thận” rồi mới lại kéo lên. Kéo cờ xong, tôi chạy xuống bằng cầu thang bộ. Xuống đến tầng hai thì đã thấy cờ Giải phóng đã được đồng đội cắm lên khá nhiều. Còn dưới sân, hầu hết các quân đoàn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh đều đã có mặt. Các dinh thự, các nóc nhà xung quanh đều phấp phới lá cờ Giải phóng… Bùi Quang Thận lúc đầu định ném lá cờ ba sọc xuống sân, nhưng nghĩ tới nghĩ lui sao đó, xếp lá cờ lại và đem xuống cất vào chiếc xe tăng 843 của mình. Cũng nhờ vậy mà sau này Bùi Quang Thận mới đưa ra được “bằng chứng” , khi cấp trên cho người đi xác minh: ai mới là người cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập. Lá cờ cất trong xe tăng của Bùi Quang Thận có một vết rách trùng khớp với phần còn sót lại trên cột cờ. (Trước 11h30 phút, khi cờ 3 sọc vẫn còn trên nóc Dinh Độc Lập) Lúc đó, chỉ biết khi tham gia chiến trận, xe nào cũng được trang bị lá cờ và giao nhiệm vụ xe nào vào trước thì kéo cờ lên trước. Hồi ấy tất cả xe tăng như xe 843, 390… đều cùng một đại Đội 4 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 203 Quân đoàn 2 nên coi đấy là thành tích chung". Cuộc sống vốn dĩ là những chuyến đi mà người ta không thể biết rõ mình sẽ ra sao. Sài Gòn giải phóng, chiến tranh kết thúc, Bùi Quang Thận trở lại phục vụ quân ngũ. Cuối năm 1978, ông được cử đi học ở Liên Xô (cũ), đến năm 1983 ông về nước, làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn xe tăng 203, cuối năm 1981, ông được giao làm Lữ trưởng và đến năm 1991, ông giữ trọng trách Chủ nhiệm Tăng thiết giáp Quân đoàn 2. Sau gần 40 năm phục vụ trong quân ngũ, năm 2000, ông về phục viên với quân hàm Đại tá. Như bao