Giếng thơi mưa ngập nước tràn Ba gian đầy cả ba gian nắng đầy Lần tìm lại những giếng xưa còn lưu lại đó đây, có những điểm riêng khác biệt so với những giếng nước được đào trong thời gian sau này. Thành giếng xưa đều được xây bằng đá ong, đẽo thành viên với kích cỡ khá lớn, dính kết bằng vữa vôi. Đá ong đẽo thành hình khối chữ nhật dùng để xây giếng vuông, đẽo thành hình vòng cung khi chồng khít lên nhau tạo thành vòng giếng tròn trịa. Đường kín vòng giếng tương đối rộng từ 1,2 đến 1,5 thước, thành giếng phủ đầy rong rêu. Bờ giếng không cao, độ sâu trung bình đo được vào khoảng tám sải tay. Nước giếng thơi mát lịm. Giếng càng sâu, nước càng mát. Giếng mà sâu hun hút thì nước vừa múc lên có độ lạnh gần như nước ta đổ vào chai để tủ lạnh. Giữa trưa hè nóng nực mà được dội gầu nước giếng lên người, ai khoẻ mạnh thì thấy mát tới tận xương tuỷ; còn ai yếu sẽ thấy rùng mình. Nước giếng thơi chẳng những mát mà còn trong vắt. Nếu giếng không quá sâu, ta có thể soi xuống để tự ngắm mình. Về quê mà bắt gặp một người con gái xoã tóc, mặc áo cánh nâu, xắn tay múc nước để lộ cổ tay trắng nõn nà thì quả là nên thơ! Em thôi gánh nước giếng làng Tôi không còn gặp trăng vàng đong đưa Giọng cười mát cả ban trưa Sâu nơi đáy giếng ai vừa múc lên. Theo quan niệm xưa, đào giếng là một việc làm không kém phần hệ trọng, lấp giếng lại càng kiêng cử hơn. Để tìm được mạch nước tốt (đặc biệt ở những vùng đất cao, mạch nước ngầm ẩn sâu trong lòng đất), khi chọn đất đào giếng người ta thường dùng nhiều chiếc bát sứ, lau khô đợi khi mặt trời lặn, đặt úp bát sứ xuống đất. Sáng sớm, lật bát sứ lên, bát sứ nào phía trong đọng nhiều hơi nước thì chọn nơi đó mà đào. Giếng quê có từ thời xưa lắc xưa lơ, thường được xây ở một góc vườn, gần nhà bếp, xung quanh đặt ngổn ngang những chiếc lu, bể để trữ nước, trồng vài khóm bạc hà, rau thơm, bờ giếng có gốc khế già nua nhiều kỷ niệm… Giếng làng thì xây trong khuôn viên đình làng, còn giếng xóm thì xây ở những nơi tiện đường qua lại. Dân gian cho rằng, đào giếng mà được mạch nước tốt là gặp điềm lành, phúc lớn. Những khi mạch nước cạn dần, chẳng khác nào điềm dữ sắp đến như hạn hán, mất mùa… Trong các dịp rằm, đầu năm, cuối năm thường có lệ cúng giếng. Năng mưa thì giếng năng đầy, Anh năng đi lại, mẹ thầy em thương”… Quan niệm xưa nay của người Việt, trong dăm ba ngày Tết, nhà nào cũng trữ nước đầy ắp các lu, bể. Chiều 30 tết giếng quê đông người lui tới, hối hả múc gánh cười nói râm ran, rồi sau đó tĩnh lặng, bình yên. Đợi sang xuân, mùng Năm hay mùng Bảy hạ nêu giếng quê mới cho khai nguồn trở lại. Giếng quê bình lặng mà thâm tình, nơi âm thầm khơi những mạch nguồn dịu ngọt từ đời này qua đời khác, mát trong nuôi dưỡng bao tâm hồn người Việt. Giếng quê cũng đâu chỉ đơn thuần là nguồn nước, mà là cả một suối nguồn yêu thương không chỉ của một đời người. Cái giếng nhỏ đã chứng kiến bao kỷ niệm, bao thăng trầm của người dân và làng. Nguyễn Đình San