Một nét ca trù ngày xuân - Nguyễn Cường

Ca trù của Việt Nam  đã được UNESCO ghi danh

vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể

cần được bảo vệ khẩn cấp.

Nếu như Kinh Bắc là đất của văn hóa Quan họ, thì xứ Đoài là một trong những cái nôi của văn hóa Ả đào, hay Ca trù cửa đình. Nơi có nhiều nhà hát cô đầu nhất là ở Xứ Đoài, và Xứ Đoài gồm có Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía bắc, Hà Tây ở phía nam, tiếp giáp Thăng Long (Hà Nội). Phú Thọ - Vĩnh Phúc là vùng trung du, nơi quy tụ của ba dòng sông lớn tại Bắc phần là sông Hồng, sông Lô và sông Đà chụm về đây, nơi có kinh đô Phong Châu của vua thủy tổ Hùng Vương, nơi có nguồn gốc tổ tiên của Việt tộc. Do đó nền văn hóa xứ Đoài trải dài từ vùng trung du đến đồng bằng Bắc bộ.            Lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù đã trải qua các thời kỳ rất phức tạp, thuở ban sơ của buổi khai mở ngành này, nó là ban nữ nhạc trong cung đình của nhà vua với tính cách giúp vui cho hoàng gia thưởng lãm, nên được xem như một loại nghệ thuật "cung đình". Với lối hát tiêu khiển, vui chơi để phục vụ cho nhu cầu thưởng ngoạn của một số quan lại, cùng nho sĩ thì nó là một hình thức nhạc thính phòng. Với lối hát cửa đình hay hát trước hương án của các vị thành hoàng ở bên trong nhà và hát bên ngoài sân hội với đông đảo quần chúng tham dự, do dó nghệ thuật ca trù được xem như vừa mang tính chất thính phòng, lại vừa mang tính chất đại chúng.

 Hát ca trù còn gọi là hát cô đầu hay hát ả đào.

Ca trù được ghi nhận ra đời vào thề kỷ 15, trải qua nhiều giai đoạn đổi thay và cãi tiến, đến giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất lên hàng nghệ thuật của nó là vào thế kỷ 19. Các quan lại trí thức, các nho sĩ thường mời ả đào về tư dinh của mình để hát những bài thơ của các thi sĩ nổi tiếng hoặc thơ của chính mình sáng tác. Nghệ thuật ca trù cần 3 người: một ả đào vừa hát vừa gõ phách, một kép đánh đàn đáy và chính chủ nhân vừa làm khán giả, vừa là người cầm chầu tức đánh trống. Người cầm chầu vừa điểm trống theo câu hát vừa là người thưởng, phạt, khen, chê, thông qua hiệu lệnh của tiếng trống. Chỉ cần 3 người cũng đã tạo nên một buổi trình diễn ca trù tiêu biểu. Thể thức ca trù là một nghệ thuật phối hợp giữa âm nhạc và thi ca, mỗi buổi hát ca trù là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà trong đó cả diễn viên và khán giả đều là nghệ sĩ thưởng ngoạn cái nghệ thuật do chính mình đóng góp. Khi cả hai bên diễn viên và khán giả đều tích cực tham gia vào cuộc trình diễn, thì họ tìm được một sự đồng điệu trong nghệ thuật. Ca trù đã trở thành thú chơi tao nhã của các bậc phong lưu, nho sĩ vào thời hưng thịnh xưa và chính nó tiêu biểu cho hình thức âm nhạc thính phòng độc đáo của người thưởng ngoạn Việt Nam. Một khi ca trù thoát ra khỏi những vương cung hoàng phủ thì nó nghiễm nhiên trở nên một nghệ thuật tiêu khiển cho đa số quần chúng, để nó phục vụ khối lượng lớn của đám đông rồi trở thành loại âm nhạc dân gian của dân tộc. Chính sự phổ biến sâu rộng ra ngoài môi trường quảng đại quần chúng, nên ca trù được các danh sĩ tài hoa rành âm luật thi ca đa dạng hóa, cãi tiến để bổ sung nhiều lối hát, làm cho ca trù ngày càng thêm phong phú.

"Long thành cầm giả ca ”

Luận bàn về tên gọi thì "Ca trù" bắt nguồn từ cái "trù", tức là cái thỏi bằng tre ghi chữ nho. Mỗi trù tương ứng với một số tiền nhất định nào đó. Mỗi khi ca đoạn nào hay, đào hát lại được khán giả tưởng thưởng cho một vài cái trù. Còn với tên "Ả đào", được hiểu chữ "ả" có nghĩa là một cô nương, và chữ "đào" có nghĩa là một cành đào biểu tượng cho nét đẹp của người nữ, danh từ "Hát ả đào" cũng có thể hiểu là ngành ca hát của cô gái sống bằng nghề này. Sau nữa, nói về danh từ "Cô đầu" thì có người cho rằng nguyên thủy là "Cô đào", dần dà người ta quen nói trại đi thành "Cô đầu". Theo sách biên khảo về ca trù của các tác giả Đỗ Trọng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì hai ông cho là chữ "đầu" ám chỉ tiền hoa hồng hay tiền đầu mà đào nương phải trả cho người thầy dạy. "Cô đầu" lại cũng được dùng để ám chỉ những người hát chuyên nghiệp thâm niên dẫn đầu có nhiều học viên. Do vậy, dù là "Ca trù" hay "Hát ả đào", hoặc "Hát Cô đầu" vẫn chỉ là một ý tưởng mà thôi. Nó là lối hát nói, là một lối hát quan trọng của thú vui chơi, thưởng ngoạn âm nhạc ngày trước, vì nó đánh dấu giai đoạn đưa thi ca vào âm nhạc, nó khuyến khích sự ra đời một thể thơ mới, đặc biệt trong văn học Việt Nam. Nhiều bài hát nói nổi tiếng của các thi nhân danh tiếng như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà,... những tác giả cho nhiều bài thơ mẫu mực cho thế hệ sau lấy làm tài liệu học tập. Thơ của họ là những tác phẩm có giá trị cao quý đóng góp cho nghệ thuật ca trù và cho văn học Việt Nam vào thế kỷ 19, cũng là mầm mống cho thể loại thơ mới, hay thơ tự do về sau này.

Một buổi biểu diễn ca trù.

Những bài tuyệt tác của ca trù được biết như: Hồng hồng tuyết tuyết (thơ Dương Khuê), Tự tình (thơ Cao Bá Quát), Bắc phản (thơ Nguyễn Du), Tỳ bà hành (thơ Bạch Cư Dị), Kể chuyện (thơ Bà Huyện Thanh Quan), Hương Sơn phong cảnh (thơ Chu Mạnh Trinh), Hỏi gió, Gặp xuân (thơ Tản Đà), Hồ Tây (thơ Nguyễn Khuyến),... Sau đây chúng ta hãy xét về bài ca trù "Hồng Hồng Tuyết Tuyết", (Phần mưỡu) "Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì Bây giờ Tuyết đã đến thì Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già. Nước nước biếc, non non xanh Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa Nhớ ai tháng đợi năm chờ Nhớ người độ ấy bây giờ là đây. (Phần Nói) Hồng Hồng, Tuyết Tuyết Mới ngày nào còn chưa biết chi chi Mười lăm năm thấm thoát có xa gì Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu. Ngã lãng du thời quân thượng thiếu Quân kim hứa giá ngã thành ông. Cười cười nói nói sượng sùng Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại Riêng một thú Thanh sơn đi lại Khéo ngây ngây dại dại với tình Đàn ai một tiếng Dương tranh".

GS Trần Văn Khê tại lễ ra mắt Giáo phường Ca trù Thăng Long

Bài hát trên tác giả ngụ ý nói ả đào Hồng Tuyết không ngoài ý nghĩa là mượn tên ám chỉ tên một cô gái trong nghề ca trù, mà còn muốn nói lên một đào nương ngay từ khi còn bé tí như một bông hoa xinh đẹp, ngây thơ và trong trắng. Đào nương được quý trọng từ thuở tấm bé đó đã được học đánh phách. Đứa bé còn vô tư, chưa biết gì về ý niệm ái tình. Nhưng 15 năm sau bé gái ấy đã đến giai đoạn dậy thì khách lãng du thuở xưa ngỏ lời tự sự của một ông già ham vui là người vốn ăn chơi ái tình lãng mạn từ khi em còn bé tí, nay khách đã già nhưng vẫn còn tính ăn chơi ong bướm như xưa. Từ ngữ được xử dụng trong bài hát "Bạch phát" mang ý nghĩa là tóc bạc, ám chỉ khách nay đã già nua rồi. Ý thơ cho biết khách ăn chơi nay gặp lại cô bé, nàng đã khôn lớn xinh đẹp, tuổi tác quá chênh lệch nên gặp nhau vẫn cười nói ngượng ngùng. Còn "Thú Thanh sơn đi lại", ám chỉ nơi hồng lâu tập trung nhiều cô đầu thuộc khu vực Hà Đông - Hà Tây ngày nay. Các câu mưỡu tức câu tóm tắt đại ý trong bài. Như phần trên đã đề cập, nguồn gốc ngành ca trù cho thấy rằng nó có xuất xứ từ nơi cung đình, vì vậy cái gốc là hát cửa đình thường gồm 3 phần tế tự, thơ ca và múa biểu diễn. Ca trù được biến thiên, phổ cập hóa cho mọi người trong quần chúng thưởng ngoạn. Qua bài hát dẫn dụ tiêu biểu trên của nhà thơ Dương Khuê, bài ca được soạn từ lời thơ thật uyên thâm, trữ tình và ý tưởng phong phú. Điều đó đã nói lên nét đẹp của ca trù.   (Nét đẹp của ca trù.)  

Bình luận (0)