(Thương nhau mấy núi cũng trèo. Mấy sông cũng lội ,mấy đèo cũng qua. Việt-Lào hai nước chúng ta. Tình sâu như nước Hồng Hà -Cửu Long) Từ ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược bán đảo Đông Dương, có một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ bạn bè các nước láng giềng trong cùng bán đảo để chống kẻ thù chung. Thời đó, những bộ đội Việt Nam tình nguyện sang Lào chiến đấu đã được mô tả trong tráng ca hào sảng “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Đầu những ngày hoà bình sau kháng chiến trường kỳ với hiệp định đình chiến Genèver 20/07/1954, chúng ta lại được đọc những áng văn chương về hữu nghị đặc biệt này qua các tác phẩm của nhà văn Lê Khâm (sau đổi là Phan Tứ) như “Bên kia biên giới”, “Trước giờ nổ súng”… và nhà văn Văn Linh như “Tiểu đoàn Hai”… Đến thời kháng chiến chống Mỹ, tình cảm sâu nặng ấy còn được thể hiện qua các ca khúc của các nhạc sĩ Lào mà các nhạc sĩ Việt Nam dịch lời và một dòng sông âm thanh xanh tình Việt-Lào là những giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam viết về đất nước Lào anh em. (Bác Hồ và Chủ tịch Souphanouvong-1951) Ngay từ trước khi chiến tranh với Mỹ xảy ra, trong thập kỷ hoà bình ngắn ngủi ở miền Bắc Việt Nam (1954-1964), hai bản dân ca Lào là “Hoa Chăm Pa” và “Lăm Tơi” qua giọng hát thánh thót của ca sĩ Tường Vy đã làm rung động biết bao con tim Việt Nam và Lào. Đến khi cuộc chiến bùng nổ, thì đã có một cuộc giao hoà đầy xúc động giữa các nhạc sĩ Lào và các nhạc sĩ Việt Nam. Những tác phẩm như “Dải đất tự do”, “Chống đế quốc Mỹ xâm lược”, “Mừng chiến thắng Nậm Na” của Si Sa Na Si San đã được các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Hồ Bắc, Trọng Loan dịch ra tiếng Việt. Các tác phẩm của Khăm Mường, Xu Văn Thoong, Ma Li Chăn, U Tam Mạ, Hủm Phăm, Xổn Bun, Pa Xớt… đã được các nhạc sĩ: Lê Lôi, Xuân Tứ, Đỗ Nhuận, Vũ Thanh và các ca sĩ Trần Hiếu, Phương Thảo, Trần Tiến (lúc ấy là ca sĩ đoàn văn công Hà Nội) dịch ra tiếng Việt. Nhưng dòng chảy mạnh mẽ nhất thì vẫn là dòng giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam cảm xúc về đất nước, con người và cuộc chiến đấu của nhân dân Lào. Theo lời kể của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, cách đây bốn mươi năm tròn, vào giữa 1967, ông đã đưa một Đội xung kích gồm mười hai diễn viên thuộc Đoàn văn công Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Hà Nội lên Tây Bắc, vượt biên giới sang chiến trường Lào phục vụ bộ đội công binh Lào- Việt làm đường từ Bản Ban đi Cánh Đồng Chum. Dù máy bay địch oanh tạc dữ dội, đội vẫn biểu diễn được hai mươi cuộc và sau đó bổ sung thêm diễn viên từ Việt Nam sang để biểu diễn phục vụ Hội nghị Trung ương Pa Thét Lào vào tối 10/8/1967 tại Hang Loong. Đích thân chủ tịch Xu Pha Nu Vông và nhiều đồng chí lãnh đạo tới xem biển diễn. Giữa chừng, máy bay địch bắn phá ác liệt. Hai quả bom rơi trúng cửa hang nhưng do hang sâu nên mọi người đều an toàn. Sau cơn khói lửa, cuộc biểu diễn vẫn tiếp tục cho đến kết thúc. Khi anh em văn công về Nhà khách thì khu vực đã trúng bom, đồ đạc quân trang tan nát hết. Các bạn Lào phải tặng cho mỗi người một bộ quân phục. Trong tư trang của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác có một quyển vở chép nhạc, trong đó có ghi một sáng tác mới về Lào của ông mang tên “Tình hữu nghị Việt Lào”, có cả phần dịch tiếng Lào của một cán bộ thích giai điệu này. Quyển vở đã bị thủng lỗ chỗ vì mảnh bom và trong đó có cả trang ghi bài hát chan chứa tình hữu nghị này. Sau chiến tranh, mùa thu 1981, ông Trác lại có dịp sang giúp đỡ cũng cố Đoàn văn công Quân đội Lào. Bài hát của ông đã được các bạn hát theo nhịp Lăm Vông: Bao năm đã qua mối tình đôi ta Càng thêm sâu xa hát vang nên bao lời ca Lòng ta thương nhau như núi cao Trường Sơn Nước sông Hồng Hà Cửu Long sóng dâng… (Bác Hồ và Chủ tịch Cayxonephonvihane-1966) Ngày đó, để có tiết mục cho chương trình, còn có thêm các bài hát “Tiến lên quân đội giải phóng nhân dân Lào” của Doãn Nho, “Tình bạn Việt Lào như núi như sông” của Trọng Loan, “Chào đường 9 anh hùng” của Huy Thục… đều là anh em nhạc sĩ quân đội cả. Còn với nhạc sĩ Đỗ Nhuận, câu chuyện có vẻ ly kỳ hơn. Với tinh thần chia sẻ: “Việt Nam có một bát cơm là Lào có nửa bát cơm” của Bác Hồ từng nói từ 1949, vào năm 1968. Sau Tổng tấn công Mậu Thân ít lâu, Đỗ Nhuận đã dẫn một đoàn nhạc sĩ và nghệ sĩ sang Lào. Đỗ Nhuận lấy tên là U Đon Xiha Lạt. Nếu Nguyễn Văn Tý có bài hát về phụ nữ Lào, Chu Minh có “Hành khúc thiếu nhi Lào”, “Ca ngợi Sầm Nưa”, Đức Minh vừa đệm guitare vừa sáng tác ra “Các dân tộc Đông Dương là anh em”, “Hoa huệ trắng”, “Việt Lào là anh em”… thì Đỗ Nhuận viết ra một vệt gồm có “Hành khúc quân đội nhân dân Lào”, “Đàn vỏi đàn voi”, “Du kích ca”, “Mường Lau ơi”, “Tình yêu Việt- Lào”… Để viết ra một vệt giai điệu như vậy, Đỗ Nhuận đã ghi chép khá kỹ lưỡng. Những nhận xét thấu gan ruột: “Thực ra, người Lào rất chất phác, sôi nổi, con gái tiếp khách nói năng rất hoạt bát. Để cho họ ghét, gột rửa rất khó. Người Lào ít nói, nhìn hành động là chính. Đã tin là tin đến cùng. Già trẻ bình đẳng và rất văn nghệ…” Có lẽ vì đất nước Lào đáng yêu đến thế mà chuyến đi này đã tạo ra một nhạc sĩ tên tuổi cho đất nước vốn xuất thân là ca sĩ, đó là nhạc sĩ Trần Tiến. Khi đi cùng đoàn với Đỗ Nhuận, Trần Tiến vẫn là ca sĩ của Đoàn văn công Hà Nội và mới viết được một bài hát là “Thanh niên lên đường ra tiền tuyến” với tiết tấu đảo phách trẻ trung. Nhờ chuyến đi Lào, Trần Tiến đã cảm hứng mà viết ra một tình ca mang tên “Cô gái Sầm Nưa” cho đến nay vẫn là giai điệu giao lưu giữa các cuộc gặp gỡ Lào- Việt thường xuyên diễn ra. Sau tình ca này, Trần Tiến còn phổ thơ Phạm Tiến Duật “Tớ là Zin ba cầu”, rồi còn vào học khoa sáng tác Nhạc Viện Hà Nội, để giờ đây trở nên một nhạc sĩ đầy ấn tượng với biệt danh “Chàng Vư-xốt-xki Việt Nam”. Việt - Lào hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long. Ngoài những chuyến đi có tính nghề nghiệp, thì cảm hứng để viết nên những giai điệu Lào còn được các nhạc sĩ quân đội viết ra trong những chuyến đi chiến dịch như trường hợp Ánh Dương và Nguyễn Trọng Tạo. Khi đi công tác Xiêng Khoảng, nơi bộ đội ta mở đường qua đèo Pu Chom Xy đánh vào H1, giải phóng vùng