Vàm kinh Quan Đàm - Rau Dừa. Mùa gió chướng năm 1967, cơ quan phân công một số anh em lên miệt Rau Dừa liên hệ địa phương tìm điểm và xin cây lá cất nhà dời cơ quan lên đây. Cuối cùng Tiểu ban văn nghệ chúng tôi từ Vịnh Dừa - đầm Thị Tường lên ở vàm kinh Quan Đàm - Rau Dừa. Trong khi anh em còn đang tìm cây lá để xóc nóc, dừng vách, băm đất nện nền thì anh em trong các bộ phận về ở - vừa ở - vừa làm việc, vừa hoàn chỉnh cơ quan… Vào một buổi chiều, một số anh em nghỉ sớm, phân công người đi chài cá - người nấu cơm. Bữa cơm dọn ra với ơ cá kho quẹt và một thau nước cơm làm canh. Chúng tôi đang hì hục trong bữa cơm "thịnh soạn" thì có người mang thư tới với nội dung: chuyển Tiểu ban văn nghệ lên Cái Rắn. Nội trong đêm đó, anh em trong các bộ phận: văn nghệ quần chúng, hội họa và Tạp chí văn nghệ Lúa Vàng đều có mặt ở địa bàn quy định. Và, trong ngày hôm sau, anh em được phân bổ đi các nơi, một bộ phận cấp tốc lên địa bàn Cà Mau Bắc, một bộ phận ở lại địa bàn Cà Mau Nam - đi vào Tổng tấn công, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Nhà má Sáu một căn, một chái, thấp, ẩn dưới hàng dừa. Phía trước nhà, má đào một cái ao sâu, khá rộng, hình chữ nhật để lấy nước xài. Trước mặt nhà, phía bên kia cái ao, trên liếp dừa khá rộng là hội trường, tuy cây lá đã cũ nhưng hình thù và những dãy ghế ngồi đóng bằng róng (cây đước con) vẫn còn nguyên vẹn của Đoàn văn công tỉnh vừa chuyển đi, để lại. Nhà má Sáu, theo đường chim bay, cách đồn Lung Trường và đồn vàm Rạch Bần chừng 3 cây số; cách chi khu Rạch Ráng chừng 4 cây số. Do khí thế cách mạng sau Đồng Khởi 1960 nên các đồn bót, chi khu của giặc đều co cụm trong công sự, nên kinh Ba Xuyên trở thành vùng giải phóng an toàn. Và ở đây trở thành hậu cứ của Đoàn văn công tỉnh. Nhiều năm, Đoàn văn công sống với má Sáu như sống với người mẹ đẻ. Mặc dù má Sáu là bà mẹ chiến sĩ, con của má là cán bộ, chiến sĩ bốn phương trời, nhưng do sự gắn bó nhiều năm với Đoàn văn công nên má Sáu thành danh "Bà mẹ văn công" . Trong "chương trình bình định của giặc" thì kinh Ba Xuyên không còn là vùng giải phóng an toàn nữa, nên Đoàn văn công tỉnh phải di chuyển đến địa bàn khác an toàn hơn. Do bộ phận Tạp chí văn nghệ Lúa Vàng chỉ có 3 anh em nên Đoàn văn công vừa rời kinh Ba Xuyên thì ba anh em tôi đến ở nhà má Sáu. Thấy má Sáu đơn độc một mình, tôi thỏ thẻ hỏi. Má Sáu kể: Khi vợ chồng má vừa sinh người con trai, thì từ Sóc Trăng, má đã lênh đênh trên chiếc xuồng đi khắp nơi tìm việc làm thuê, tìm nơi làm mướn. Mấy năm trời cả gia đình má sống bồng bềnh trên sông nước. Đến năm 1950, gia đình má mới có bến đậu - đến xứ Rạch Bần này được cách mạng tạm cấp 30 công ruộng, định cư ở đây tới bây giờ. Năm đầu tiên về đây ở, ba tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn, năm 1953 má nhận thư báo tử, ba hy sinh ở miền trên. Mặc dù là thân phận đàn bà, cô đơn mà năm nào má Sáu cũng phát cấy 30 công ruộng. Lúa làm ra má để đủ ăn, đủ nuôi cán bộ, chiến sĩ, số dư thừa má hiến hết cho kháng chiến. Người con trai duy nhất của má Sáu, năm chưa đầy 17 tuổi xin theo các chú, các bác vào "cứ" hoạt động bí mật. Sau Đồng Khởi 1960, anh tình nguyện đi quân giải phóng miền và đánh trận hy sinh ở miệt Bà Đầm, Thác Lác vào năm 1965… Chồng đánh Tây hy sinh, con trai độc nhất đánh Mỹ hy sinh, từ những năm cách mạng trong đen tối hay những năm chiến tranh ác liệt, má Sáu luôn luôn là bà mẹ của cách mạng, nuôi giấu, bảo bọc biết bao cán bộ, chiến sĩ. Năm nào má Sáu cũng phát cấy đàng hoàng 30 công ruộng. Má nói: "Phải ráng làm ruộng để có cho các con nó ăn, để có đặng giúp cho kháng chiến mới mau độc lập" . Vào mùa phát cấy ruộng hay mùa thu hoạch, anh em cán bộ, chiến sĩ về thăm má đều kéo ra đồng phát, cào, nhổ mạ, cấy lúa hoặc gặt, đập lúa với má. Những khi công việc đồng áng, má Sáu làm không kịp thì tổ Đảng vận động thanh niên đến tiếp má. Thấy việc nhà được nhiều người tới giúp, má Sáu tỏ lời e ngại, nhiều người khuyên má: "Má ơi, má đừng có ngại ngùng gì hết, cả đời má làm ra hạt lúa đều nuôi các con cán bộ, chiến sĩ và hiến cho kháng chiến, chớ má có làm giàu làm có gì mà má ngại". Đoàn văn công vừa đi, má Sáu rất buồn. Ba anh em tôi đến ở, má tỏ ra rất mừng vui. Má Sáu nói: "Mấy đứa con văn công đi mấy ngày má buồn đứt ruột. May mà có các con đến đây ở với má là má vui rồi!". Chúng tôi ở nhà má chẳng những má vui vẻ mà má còn bảo bọc mọi thứ: lo từ bữa cơm, câu từng con cá, hái từng lá rau… Mấy lần cơ quan phát gạo, anh em tôi mang về, má rầy la dữ lắm: "Bộ tụi bây ở với má sợ chết đói sao? Má còn bồ lúa mà con". Từ đó về sau má không cho anh em tôi mang gạo về, nhà nữa. Má Sáu nói: "Ngoài cơ quan của các con biết có đủ gạo ăn không mà các con mang gạo về cho má? Má không nhận nữa đà nghe…". Má Sáu chỉ thích khi má ra đồng giậm lúa hay đi câu cá, khi anh em tôi có người rảnh việc theo giúp má, thủ thỉ chuyện này chuyện nọ với má là má tỏ ra rất vui vẻ. Hoặc nhà không có nước mắm ăn, tôi học được công thức pha chế nước mắm: muối + nước + bột ngọt, nấu sôi lâu, hớt bọt nhiều lần, để nguội rồi vô chai. Mỗi lần anh em tôi pha chế hơn chục chai để một hàng trên kệ dùng kho cá, chấm cá canh, cá nướng… Mấy lần má Sáu xách vài chai nước mắm đến cho thím Tư Hương, má nói: "Thím ăn thử, nước mắm mấy đứa con tui làm ngon không thua nước mắm biển ngoài chợ bán". Những tháng ngày về ở nhà má Sáu, anh em tôi thật sung sướng. Gạo thì má Sáu có sẵn, vài tháng đầu cơ quan đưa vô được vài táo, sau này má không nhận gạo của cơ quan nữa. Còn thức ăn thì chúng tôi ăn phủ phê. Má Sáu có tài câu cá và dành cá rô mề, cá trê nọng cho chúng tôi. Khi dư thừa thì má cân cá nhỏ cho lái. Má có hai cái lọp đặt ở các con mương liếp, khi nào anh em tôi về đủ má mới dỡ lọp cho anh em tôi ăn những con rùa vàng hoặc những con cá dầy mập ú đem nướng lột da vàng ngấy, thơm ngậy. Ngôi nhà má Sáu đơn sơ, nhỏ hẹp, khi chúng tôi đến đã có sẵn 4 chiếc giường lót bằng những hanh tre, bằng sóng lá dừa nước phơi khô. Chiếc giường má ngủ trong cái buồng dừng bằng những tấm lá chầm. Ba chiếc giường của ba anh em tôi ngủ được bắc liền nhau, sát vách trong cùng. Phí