Lễ hội Dân tộc Khơ Mú (Xá)

“Xả kin hay, Tay kin na” - Đó là câu nói quen thuộc của đồng bào sống trên cánh đồng Mường Lò, từ nhỏ tôi đã nghe. Câu này có nghĩa “Xá (Khơ Mú) ăn nhờ nương, Thái ăn nhờ ruộng”, phân biệt cách sinh sống, cách sản xuất của hai dân tộc Xả (xá), Tay (Thái). Dân tộc Khơ Mú nhờ đời tiếp đời làm nương, sống gần nương, rừng núi nên đã sáng chế nhiều loại nhạc cụ hết sức độc đáo. Đó là những dân mõ đuổi chuột, chim vào nương (tklơp), đàn Hưn Mạy (đàn gõ thăm đao đao), sáo (pi tơm), sáo dọc (tót), sáo thổi bằng mũi (tó mạ boi), sáo của phụ nữ thổi (ho rơ)... Cả cây húng để tra hạt giống trên nương cũng sáng chế ra loại nhạc cụ hết sức độc đáo.

(Lễ tra hạt cầu mưa)

Do làm nương phải tra hạt ngô, đậu, thóc... nên dân tộc Khơ Mú dùng cây húng để húng lỗ. Nhiều người giải thích: nếu vãi hạt, người ra khỏi nương thì chim, chuột, sóc sẽ ăn hết hạt giống, đồng bào phải húng lỗ, tra hạt. Việc húng lỗ này, từ xa xưa đồng bào chỉ chọn một cây gỗ cứng, vừa tay cầm tại nương, vót một đầu nhọn để húng.

(Tiếng đàn Hưn Mạy- Đào Ngọc Dung) 

Gieo hạt giống nương xong, cây húng bị bỏ đi. Nhưng, cũng từ nhiều đời, có những gia đình lại cầu kỳ chọn cây lim, cây táu mọc trên núi đá, cứng như sắt để làm cây húng. Họ dùng năm này qua năm khác. Cây húng này dài đến vài ba sải tay, thon nhỏ vừa tầm tay cầm, được đẽo gọt nhẵn đẹp, vót nhọn một đầu để húng; có nhà còn cầu kỳ bịt sắt vào đầu nhọn để dễ húng mà bền lâu. Điều đặc biệt, trên ngọn cây húng, gắn một đoạn dài hơn một gang tay, đồng bào gọi là grếch. Grếch rỗng, trong có một mẫu gỗ cứng. Khi húng tra hạt, lõi gỗ này văng lên, đập xuống, phát ra âm thanh. Người húng lỗ có kinh nghiệm, diệu nghệ, tài điều khiển cho “cây nhạc cụ” phát ra những tiếng “bình bôông” nhịp nhàng, vang xa, như bản nhạc rộn ràng rừng núi.

(Điệu múa cầu mưa rơi)

Khi gieo hạt trên nương, đồng bào thường làm đổi công cho nhau, đàn ông đàn bà, nam nữ tấp nập. Nam giới khỏe mạnh cầm cây húng, dàn hàng ngang. Phía nữ cũng dàn hàng, đối diện. Nam vừa húng lỗ vừa lùi. Nữ vừa tra hạt giống vừa tiến. Âm thanh của Grếch tạo nhịp điệu lao động. Người cầm húng có grếch là người đứng tuổi, có kinh nghiệm lão luyện làm chủ, húng giữ nhịp để mọi người cùng làm. Cả tốp người, bên nam, bên nữ, cùng làm cùng nhịp như múa như nhảy, trong tiếng nhạc rộn ràng. Cảnh lao động ấy thật vui, thật đẹp, kết quả công việc cũng thật tuyệt vời. Do làm theo nhịp, theo khoảng cách đều, những lỗ húng thẳng nhau, có khoảng nhất định như ý muốn, độ sâu mỗi hố đủ bảo vệ hạt giống, cây dễ dàng mọc lên. Buổi lao động biến thành điệu múa, thành buổi sinh hoạt văn hóa dân gian. Một việc làm nặng nhọc biến thành sinh hoạt vui cộng đồng độc đáo. Điệu múa biểu tượng cho mối cộng cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, từng nhịp điệu đều liên quan mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa và khát vọng về tình yêu đôi lứa.

(Múa đàn Hưn Mạy)

Trăng đại ngàn vằng vặc soi trên núi rừng, trong tiếng chiêng ngân nga hoà nhịp bring họa (trống đuổi khỉ), các chàng trai, cô gái Khơ Mú xúng xính những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, nhún nhảy nhịp nhàng trong vũ điệu ong eo mê đắm lòng người... Khi được hỏi về xuất xứ của điệu múa, kể cả người già trong bản cũng lắc đầu không biết nó đến từ đâu, chỉ biết rằng đã bao đời nay, ong eo là niềm tự hào góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng Khơ Mú giữa non ngàn Tây Bắc... Ong eo của đồng bào Khơ Mú là điệu múa lắc hông, uốn lượn eo, được mô phỏng theo các động tác, cử chỉ lao động hàng ngày của người dân nơi đây như: Gặt lúa, bẻ ngô, hái rau, nhổ cỏ, đơm tép, giặt giũ. Điệu múa biểu tượng cho mối cộng cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, từng nhịp điệu đều liên quan mật thiết với tín ngưỡng cầu mùa và khát vọng về tình yêu đôi lứa.

(Múa chào xuân mới)

Xưa kia, đời sống khó khăn, quanh năm phải lo cái ăn, cái mặc nên thanh niên Khơ Mú chỉ múa vào những dịp tế lễ, hội hè khi tất cả bà con gác lại mọi công việc, tề tựu đông đủ trước sự chứng kiến của những bậc cao niên nhất trong bản. Ngày nay, những điệu múa ong eo, tăng bu, múa xòe vòng... được họ biểu diễn bất cứ lúc nào, nhất là vào những đêm rằm chơi trăng, hò hẹn. Khi múa ong eo, người nam thường đeo chiếc khoong khăn vừa là nhạc khí, vừa là đạo cụ, trong khi các cô gái với bộ váy thổ cẩm sặc sỡ, nụ cười duyên dáng, nhịp gót nhún rộn ràng, uốn lượn lưng eo khiến người xem ngẩn ngơ say đắm. Khi ong eo mới bắt đầu, khoảng cách giữa khán giả và "diễn viên" còn được duy trì. Càng say sưa múa, người vòng ngoài, vòng trong càng đắm chìm cùng tiết tấu, nhịp điệu múa và khoảng cách mất dần. Khi ấy người múa tự khoe mình là chính, đội hình bị phá vỡ và tất cả hòa vào làm một, ai cũng múa, đắm đuối uốn lượn...

(Điệu múa ong eo)

Mặc dù có tính cộng đồng rất cao nhưng ong eo là điệu múa khó, đòi hỏi phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn, uyển chuyển, linh hoạt của nhiều động tác trên cơ thể như: Lên, xuống, uốn lượn, lắc ngang từ chân đến tay, bụng... Khi thể hiện các điệu múa, toàn thân người múa đều rung lên với đầy sức sống dồi dào, người múa dường như hòa mình cùng với nhịp của tiếng chiêng, trống, đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ của vùng núi Tây Bắc, quên đi những lo âu của cuộc sống vất vả hàng ngày. “Tôi tin rằng dù trải qua tháng năm và những biến cố như thế nào thì điệu ong eo vẫn sống mãi cùng người Khơ Mú..." - cụ Lừ Chí Tở, người cao tuổi nhất bản Thàn, nói vậy.  Trần Cao Đàm

Bình luận (0)