Nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất nhạc sĩ La Hữu Vang (1936-2007) Hồi còn là học sinh Cường Để, trong lớp có vài ba người bạn quê các quận lân cận thường rủ chúng tôi thỉnh thoảng đi xe lam cuối tuần ra ngoại ô chơi. Ở Quy Nhơn phố thị hơi ngột ngạt, rất thèm không khí thảo dã, mà thị trấn Bình Định hồi đó đáp ứng niềm hoang sơ ấy, cây cỏ lấn át những con đường đất gập ghềnh, hơn nữa gia đình bạn tôi lại yêu chữ nghĩa, yêu văn nghệ, nên rất lôi cuốn bước chân “giang hồ vặt” của đám học trò tập tành viết văn làm báo chúng tôi lúc bấy giờ. Một sự lôi cuốn nữa là có đứa trong chúng tôi kể rằng đất này thiêng lắm, ông Mai Xuân Thưởng trên pháp trường ngoại vi thị trấn này, trước khi đầu lìa khỏi cổ còn ứng tác bài thơ nổi tiếng “ Chết nào có sợ chết như chơi- Chết bởi vì dân chết bởi thời- Chết hiếu chi nài xương thịt nát- Chết trung bao quản cổ đầu rơi… ” mà chúng tôi từng học trong sách Sử ký hồi tiểu học. (Những con đường quê ta đó- La Hữu Vang) Cũng có đứa kể rằng ông Nguyễn Bá Trác từng là quan lớn ngồi trong thành Bình Định kia ngâm ngợi: “ Trượng phu đã không hay hề, xé gan bẻ cột phù cương thường- Hà tất tiêu dao trong bốn bể, luân lạc tha hương- Trời Nam ngàn dặm thẳm- Mây nước một màu sương- Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương… ”. Thì ra bước chân lịch sử đã đi qua, không phải còn cái xác, lịch sử đã để lại hồn vía của mình bằng sự thức tỉnh và niềm hứng khởi trong những ký ức và liên tưởng, người lớn kẻ nhỏ, lắm nơi nhiều lúc. Phải nói, hồi ấy, phong trào văn nghệ báo chí học đường mạnh lắm. Giáo sư Hiệu trưởng trường Trung học của chúng tôi lại là một người nổi tiếng trên văn đàn miền Nam thời ấy- nhà văn Nguyễn Mộng Giác- cho nên lứa học sinh say mê thơ ca nhạc họa có điều kiện bổ sung kiến thức trong các cuộc thi thố do nhà trường phát động, sự hiểu biết cũng không đến nỗi phập phù về các nhân vật Bình Định đương đại, dù họ ở phía bên này hoặc bên kia. Bởi vậy, chúng tôi thường gọi thị trấn Bình Định bằng nhiều tên khác nhau, tùy hứng trong các cuộc tụ bạ bạn bè, đại loại bằng tên cảnh vật như Mây Trắng, Hoa Sen, Bông Gòn, Xe Ngựa, Vông Đồng, Hoàng Thành, Trăng Sao… bằng tên tác phẩm như Hồ Trường, Điêu Tàn, Bến My Lăng, Những Ngày Xưa Thân Ái… bằng tên con người như Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Hồ Sĩ Tạo, Chế Lan Viên, Yến Lan, Phạm Văn Ký, Phạm Hổ, Phạm Thế Mỹ… đủ cả. Rồi cũng có lúc, chúng tôi lại ồ lên, thị trấn La Hữu Vang, và chợt ôm đàn “ Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời- Từng giây nghe quê hương xót xa đầy trong cơn thê lương- Thù quân gieo đau thương bao suối lệ tràn dâng muôn phương- Tổ quốc ơi ta đã nghe lời sông núi… ”. Sau giải phóng, công tác trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, tôi có điều kiện tiếp xúc với những người mình từng kính trọng yêu mến gắn bó với mảnh đất này, trong đó có nhạc sĩ La Hữu Vang. Ông làm việc ở Nhà Văn hóa huyện và có chân trong BCH Hội VHNT tỉnh Nghĩa Bình. Với tác phong giản dị, ăn nói nhỏ nhẹ, tuy không vồn vã nhưng cũng đủ thân tình, ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một ấn tượng đẹp, khi tôi đưa các ca sĩ trong liên hoan ca khúc chính trị về biểu diễn và liên hệ để ông triển khai. Tuy nhiên, từ buổi ấy cho đến về sau, nhiều lần được tiếp xúc với ông, tôi cảm nhận rằng chiếc áo công chức luôn luôn quá chật với con người nghệ sĩ thăng hoa “ Ôi Tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường- Đem máu hồng tô thắm đẹp cuộc đời- Lời xưa vang đâu đây chí kiêu hùng muôn phương tung bay ” của ông cũng như bao nhiêu nghệ sĩ thứ thiệt. Tinh thần ngùn ngụt vô tư dâng hiến của trai thời loạn đôi khi gặp những bẽ bàng trong đời sống thời bình, đó là điều không dễ gì nói ra được ở bối cảnh thời bấy giờ. Giữa hòa bình, gặp La Hữu Vang và những nhạc sĩ Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn… trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” đầy ân tình và giông bão của cuối thập niên thứ 6, đầu thập niên thứ 7 trong thế kỷ XX, tôi cứ còn mãi tâm trạng: “ Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca mãi muôn đời, lời ca yêu mến người. Lời tôi ca trên đồng lúa, lời tôi ca sớm mai hồng, lời tôi ca con sóng nhỏ dòng sông... Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca những anh hùng trọn đời yêu núi sông... Và ngàn lời ca quyết đánh tan bao ngục tù, và ngàn lời ca xóa đớn đau quên hận thù. Người người tìm nhau trong bác ái, tin yêu đời, chung xây nước Việt đẹp tươi...” . La Hữu Vang giảng dạy âm nhạc ở các trường trung học trong tỉnh Bình Định đầu những năm sáu mươi, trước khi ông vào Sài Gòn tham gia phong trào này, một phong trào mà những nhạc phẩm vang động trong tim đồng bào, có tiếng vọng khắp hành tinh: “ Vừa mới viết ra, vừa mới xướng lên, nó đã được truyền đi từ miệng người nầy đến miệng người khác. Nó nảy nở giữa gọng kềm siết chặt, nơi mà mỗi cử chỉ, mỗi lời nói là một vấn đề sống chết. Những lời hát cất lên giữa những dùi cui, đàn áp, lặp lại giữa những chiếc xe bọc thép, rồi vang lên ở góc phố, nơi mà những anh sinh viên bị đuổi bắt. Nó đã đánh thức lương tâm của tuổi trẻ và lòng nhiệt thành của họ. Tất cả cơ đồ của “lối sống Mỹ” đã bất lực, không thể bóp nghẹt tiếng nói của một thế hệ trẻ sinh ra dưới những trận mưa bom và chưa bao giờ được biết gương mặt của hòa bình ” (Mireille Garnel- Báo Le Monde, Paris 11-2-1972). Một thời đi qua, hào hùng, thử thách khắc nghiệt trong biển lửa miền Nam, các sinh viên học sinh đô thị sôi sục, lấy văn chương, âm nhạc là vũ khí thanh cao và đắc lực để chống văn hóa đồi trụy, lai căng, cổ vũ tinh thần yêu nước, đòi hòa bình, thống nhất. Bản thân mỗi người trong họ chính là một nốt nhạc quả cảm vô song trong giàn đồng ca đấu tranh đô thị qua các cuộc hội thảo, xuống đường, những đêm không ngủ, các chiến dịch đốt xe Mỹ… Trước khi Đêm Văn nghệ vì Hòa Bình tổ chức tại trường Đại Học Nông Lâm Súc Sài Gòn (27. 12. 1969) để chính thức ra mắt tên gọi HÁT CHO ĐỒNG BÀO TÔI NGHE , đã có liên tục những đêm bùng nổ: Hội Tết Quang Trung Sài Gòn năm 1967 như một bước chuẩn bị công khai cho cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 tổ chức tại Trường Quốc gia Hành chánh gồm 28 trường đại họ