“Tung bay là tung bay cờ đỏ sao vàng. Muôn sao tung không gian từ Việt Bắc tới tận bưng biền….”. Cứ đến ngày kỷ niệm cách mạng tháng tám và Quốc khánh 2 –9, trên các phương tiên thông tin đại chúng, các chương trình biểu diễn ca nhạc hoành tráng, người ta lại nghe vang vang giai điệu hào hùng của bài ca “Lá cờ tháng Tám”. “Tung bay là tung bay cờ đỏ sao vàng. Muôn sao tung không gian từ Việt Bắc tới tận bưng biền….”. Hơn 50 năm qua, bài hát vẫn đi theo dòng chảy của lịch sử nước nhà, chứng kiến những giai đoạn hào hùng nhất của dân tộc. Chúng tôi đã có dịp gặp lại nhạc sĩ Phan Thanh Nam, tác giả của bài hát này để nghe ông kể lại khoảnh khắc sáng tác bài hát. Tôi chào đời trong thời buổi đất nước còn dười bàn tay của thực dân phong kiến. Những năm 1940 – 1945, khi cái đầu biết nhận thức thì mắt thấy tai nghe biết bao biến động trong xã hội, trên thế giới, trên đất nước thân yêu của mình. Khi cách mạng đến thì chỉ có một con đường: nhập cuộc. Phấn khởi quá, vui quá, đánh Tây, hạ quan quyền, vì độc lập tự do của Tổ quốc, thế là lên đường. Không mấy ai nghĩ mình sẽ làm gì? Mình là cái thứ gì? Tôi nhảy lên những chuyến áp tải lương thực, vũ khí, cùng bộ đội vào mặt trận Nha Trang – Ninh Hòa rồi nhập vào đại đội An Khê – Tây Nguyên. Đến ngaỳ toàn quốc kháng chiến (19 – 12 – 1946) lại có mặt ở Huế. Tung bay là tung bay. Muôn năm Hồ Chí Minh Cờ vàng sao phấp phới chiến thắng Thế trận vỡ, đầu năm 1947, tôi trở thành người của quân giới Liên khu 4 – ở một xưởng thử nghiệm và sản xuất bazoka A.T trực thuộc Nha nghiên cứu kỹ thuật, bộ Quốc phòng, làm ra vũ khí hiện đại với những kiến thức non nớt, với những phương tiện cực kỳ thủ công”. Chàng thanh niên Phan Thanh Nam nhập cuộc với cách mạng tưởng chừng như rất đơn giản. Cái nghề chế tạo vũ khí phục vụ chiến trường, “điếc không sợ súng” đã không tránh khỏi những tai nạn, tử vong cho nhiều người. Và anh lính trẻ Phan Thanh Nam trong một lần thử nghiệm chế tạo lựu đạn lửa đã bị tai nạn, phỏng cả khuôn mặt trai trẻ. Những ngày nằm trạm xá điều trị là những ngày thất vọng của Phan Thanh Nam. Ông nhớ lại: “Một buổi chiều chạng vạng tối, những ngọn đèn dầu đã được thắp lên leo lét trong các phòng bệnh nhân. Nhìn ra bên ngoài bệnh viện không có bóng người. Tôi lững thững bước ra, đứng dựa vào chiếc cột cổng bệnh viện nhìn lên bầu trời thăm thẳm. Một bé gái đội trên đầu một rổ bún xuất hiện. Em lướt qua mặt tôi, quay đầu nhìn lại rồi bỗng thét lên: “Ma! Ma!”. Em vứt luôn rổ bún rồi ú té chạy. Tôi vội quay vào phòng ngẩn ngơ. Vừa thương em, vừa tự giận và thấy tủi thân. Cầm chiếc gương tự soi mặt mình, tôi cảm thấy tủi phận. Rồi sẽ ra sao đây! Tôi vừa mới chớm tuổi hai mươi. Nằm trên giường bệnh, tôi cất tiếng hát. Tôi hát và hát …, hết bài này sang bài khác, đủ loại. Tôi ngồi dựa lưng vào tường để hát cho đã, trước mắt tôi là anh em thương binh, người mất tay, người mất chân, người còn băng trắng trên đầu, trên ngực. Họ xoay người về phía tôi im lặng như muốn nuốt từng lời, từng dòng nhạc điệu. Hát hay? Không hay, không biết, tôi cứ hát … vì mọi người muốn nghe tôi hát”. Muôn năm Đảng Quang vinh Muôn năm Hồ Chí Minh Cờ vàng sao thắm máu chiến sĩ. Lớp da non trên khuôn mặt dần thay thế cho lớp da cũ bị cháy, ông trở về với công việc của quân giới. Nhưng cái buổi tuối kỳ diệu lạ lùng ấy cứ như hiện ra trước mắt ông. Em bé đội thúng bún, ngọn đền dầu leo lét chập chờn – anh thương binh – những bóng áo choàng trắng cứ chập chờn trong ông … “Một buổi sáng sớm nhìn ra khe liếp, mặt trời hồng đỏ vừa lấp ló nhô lên. Bỗng bật lên trong tôi một nỗi lòng đã ủ kín từ lúc nào: “Đây chiến khu! Ngập tràn hồ chiến sĩ, thù bao năm lệ máu tuôn rơi. Đây chiến khu ru hồn người chiến sĩ, hân ngàn đời – nước mất nhà tan”. Một baì hát đang hình thành, bài Sớm chiến khu . Lúc đầu còn dò dẫm trong anh em đồng đội. Rồi thì những lời khích lệ: cậu viết đi, viết về chúng mình ấy! Bazooka này, A.T (một loại vũ khí chống tăng – NV) này … Viết đi, cuộc kháng chiến còn dài mà. Và tôi bắt đầu viết, viết vì bức xúc muốn ngỏ lòng mình, để bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm của tôi với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc”, ông kể lại. Lá cờ của vinh quang … Năm 1950, tôi ra chiến khu Việt Bắc, anh em ở quân giới khuyên tôi chuyển công tác vì họ hiểu tác động lớn lao của văn nghệ đối với cuộc kháng chiến. Vậy là tôi chuyển sang Hội văn nghệ lúc này đóng ở Thái Nguyên. Đến cuối năm 1953, tôi tham gia chiến dịch Trung – Lào, hành quân từ Bắc vào Liên khu 4. Lúc này, tin thắng lợi dòn dã trên các chiến trường từ Nam ra Bắc, buộc chính phủ Pháp phải điều đình với Chính phủ Việt Nam, chuẩn bị cho Hội nghị Genève. Lá cờ tháng Tám, lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ Tổ quốc Việt Nam, đã hiện diện trên bàn Hội nghị Genève và phấp phới bay trên bầu trời các nước trên thế giới. Cờ vàng sao phấp phới chiến thắng Cờ vàng sao quét sạch xâm lăng Cùng tiến lên giành lại non sông. Tự hào vì điều đó, những lời ca của bài hát cứ thế tuôn ra. Tôi viết rất nhanh, vừa đi vừa viết và phổ biến bài hát. “Tung bay là tung bay, cờ đỏ sao vàng. Muôn sao tung không gian từ Việt Bắc tới tận bưng biền …. Cờ vàng sao phấp phới chiến thắng. Cờ vàng sao quét loài xâm lăng. Trời Bắc kinh và Mạc Tư Khoa, rực Ba Lê trong muôn triệu reo hò. Vượt gian nan trường kỳ kháng chiến. Đài vinh quang của muôn triệu trái tim …” Những lời ca hừng hực khí thế cứ thế, theo bước chân những người chiến sĩ lan rộng khắp nơi trên đường hành quân. Ngày 10 – 10 – 1954, bài ca theo chân đoàn quân chiến thắng từ Việt Bắc về tiếp quản thủ đô. Lúc này, Đài Tiếng nói Việt Nam bắt đầu dàn dựng bài hát và phát trên đài. Từ đó, bài hát đã trở thành là của chung của quần chúng. Tài tử Ngọc Bảo, một ca sĩ nổi tiếng từ ngày ấy khi “vớ” được bài hát đã say sưa hát ở khắp mọi nơi, để truyền lửa của ngọn cờ tháng Tám vào lòng mọi người. Nhạc sĩ Phan Thanh Nam kể: “Tôi viết Lá cờ tháng Tám khi tôi không phải là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam và tôi cũng chưa có vinh dự một lần gặp và biết rõ về con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cũng hoàn toàn không do một ai thúc bách, n