4 BÀI HÁT ĐẦU TIÊN CA NGỢI HỒ CHỦ TỊCH PHAN ĐÔNG VIÊN Cách mạng Tháng 8 thành công. Trong sự phấn khởi tột cùng của toàn dân khi giành được chính quyền, hàng chục cuộc mít tinh, cổ động, diễu hành của quần chúng, đoàn thể các ngành các giới, các lứa tuổi… thu hút hàng nghìn người liên tục được tổ chức để chào mừng thắng lợi của cách mạng. Đồng hành và góp phần không nhỏ trong không khí tưng bừng náo nhiệt của các sự kiện đó là tiếng vang hùng tráng của các dàn nhạc kèn cùng những bài hát yêu nước cách mạng buổi ban đầu như: Cùng nhau đi hồng binh (của Đinh Nhu), Tiến quân ca (của Văn Cao), Diệt phát xít (của Nguyễn Đình Thi), Du kích ca (của Đỗ Nhuận), 19 tháng 8 (của Xuân Oanh) v.v… Lúc bấy giờ nhiều người còn hỏi nhau cụ Hồ Chí Minh có phải là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc không? bởi từ trước nhân dân thường chỉ truyền tai nhau Nguyễn Ái Quốc là vị lãnh tụ cách mạng huyền thoại cao siêu, là vị cứu tinh sắp đưa nước ta thoát vòng nô lệ. Cho đến ngày cụ Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, nhân dân mới dần hiểu cụ Hồ Chí Minh chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt khi đang đọc tuyên ngôn cụ dừng lại hỏi "tôi nói đồng bào nghe rõ không?" hàng vạn người đồng thanh đáp lại "rõ ạ!" thì khoảng cách giữa lãnh tụ và nhân dân không còn nữa, thay vào đó là một tình cảm gần gũi thân thiết, cũng từ đó nhân dân tin tưởng, dành tình cảm, lòng thành kính, sự ngưỡng mộ đối với lãnh tụ và tạo nguồn cảm hứng để những giai điệu đầu tiên ra đời trong các bài hát ca ngợi Người. Thời kỳ đầu cách mạng lãnh tụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, thường được tôn xưng là Hồ Chủ tịch, tuy nhiên các bài hát về Hồ Chủ tịch từ những ngày đầu độc lập đến suốt cuộc kháng chiến đã dùng nhiều đại danh từ nhân xưng khác nhau như Cụ, Bác hoặc danh từ tôn xưng như Cha già dân tộc . Điều này liên quan đến hoàn cảnh xã hội, phong tục tập quán của cả Việt Nam và thế giới: Trước cách mạng tháng 8, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, xã hội Việt Nam là một bức tranh ảm đạm, với 90% dân số là nông dân, nông thôn Việt Nam bị cai trị bởi lũ cường hào, ác bá, lý dịch đại diện cho chính quyền, với sự thâu tóm ruộng đất của bọn địa chủ, phần lớn nông dân không một thước đất cắm dùi phải đi ở hoặc làm thuê cho địa chủ, tình cảnh vô cùng đói khổ cùng cực của người nông dân cũng như bộ mặt nông thôn xơ xác tiêu điều đã được đặc tả trong nhiều tác phẩm văn chương hiện thực thời bấy giờ, không hiếm hoàn cảnh người nông dân như chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Ở thành thị, trừ một số công chức chính quyền và nhà buôn, còn đại đa số là dân nghèo kiếm sống bằng đủ loại nghề: buôn thúng bán mẹt, cu li xe hoặc những nghề khốn khổ nhất, từ đó phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, bộ mặt thành thị trừ những phố Tây, còn lại dân nghèo phải ở trong những khu ổ chuột không điện, không nước sạch, vô cùng lộn xộn, nhếch nhác và bệnh tật. Công nhân trong các nhà máy hầm mỏ bị bóc lột thậm tệ, làm 12 giờ một ngày với đồng lương chết đói, các cuộc biểu tình đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm đều bị đàn áp tù đày. Hơn thế nữa, với chính sách đàn áp tàn bạo bóc lột triệt để, bọn thống trị còn đặt ra hàng trăm thứ thuế quàng vào cổ người dân như trong bài Đồng tỉnh quốc dân ca (Bài ca thức tỉnh quốc dân) của cụ Phan Bội Châu mà từ thời trước 1970, học sinh THCS đều phải học thuộc lòng: …. Các thức thuế các làng thêm mãi, Hết đinh điền rồi lại trâu bò. Thuế chó cũi, thuế lợn bò, Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe. Thuế các chợ, thuế chè, thuế thuốc, Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn. Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền, Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn. Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn, Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn. Thuế dầu mật, thuế đàn dĩ thõa, Thuế gạo rau, thuế lúa, thuế bông. Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng, Thuế chim, thuế cá, khắp trong lưỡng kỳ. Các thức thuế kể chi cho xiết, Thuế xia kia mới thật lạ lùng, Làm cho thập thất cửu không, Làm cho xơ xác, khốn cùng chưa thôi. …. Chú thích: - Thuế con hát đàn : đánh vào các gánh hát và tài tử, đào kép. - Thuế đàn đĩ thõa : đánh vào nhà thổ, mại dâm. - Lưỡng kỳ : Bắc kỳ và Trung kỳ. - Thuế xia (Chier: tiếng Pháp nghĩa là phân người) đánh vào những người làm nghề đổ thùng - dọn phân người trong các thành thị. - Thập thất cửu không : "10 mất, 9 không" (thành ngữ ý nói mất hết không còn gì). Tranh châm biếm trên báo Diễn đàn Đông Dương ngày 5/11/1926 vẽ một tên thực dân bảnh bao thẳng lưng giơ tờ lệnh đốc thuế trước mặt người dân bản xứ áo the khăn xếp đi chân đất đang còng lưng cõng một bao tải thuế thuế (tiếng Pháp impôts taxes đều có nghĩa là thuế). Toàn bộ chính sách cai trị bóc lột của thực dân phong kiến khiến đại đa số nhân dân Việt Nam sống trong tình trạng một cổ hai tròng, bần cùng hóa kiệt quệ, ảnh hưởng trực tiếp đến giống nòi, tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 45 tuổi. Do vòng đời ngắn ngủi nên từ bắc miền Trung trở ra hình thành phong tục tảo hôn và khao lão - nhiều cặp trai gái từ 13 tuổi trở lên đã thành hôn, phụ nữ 18 tuổi đã 2, 3 con, 35 tuổi đã thành bà nội bà ngoại. Các suất đinh (đàn ông) cứ 50 tuổi ta (49 tuổi dương lịch) là tổ chức lễ lên lão (hoặc khao lão): làm vài mâm cỗ cúng thần thánh gia tiên rồi mời bà con thân thuộc đến ăn khao, từ sau hôm đó các vị đã khao lão đi ra đường đều được mọi người chào bằng Cụ. Phong tục ấy đã ăn sâu vào đời sống xã hội, khi cách mạng mới thành công, các vị thành viên chính phủ hoặc quan chức cao cấp trên 50 tuổi đều được gọi bằng Cụ một cách tôn kính như phong tục vốn có: cụ Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Khắc Hòe v.v… Còn theo tập quán quốc tế, trong lĩnh vực khoa học, những nhà khoa học phát minh ra một lý thuyết, một định luật hoặc một công nghệ cải tạo được cả thế giới thì đều được gọi một cách tôn kính là Cha đẻ , ví dụ ông Archimèdes được tôn xưng là Cha đẻ của những con số, ông Isaac Newton được tôn xưng là Cha đẻ của định luật vạn vật hấp dẫn , ông Albert Einstein được tôn xưng là Cha đẻ của thuyết tương đối v.v… Trong lĩn