(Bàn thờ Liệt sĩ Lê văn Huỳnh và những lá thư) Anh Lê Văn Huỳnh vào chiến trường Quảng Trị khi đang là sinh viên năm thứ 4, khoa Cầu hầm, khóa 13, trường Đại học Xây dựng. Anh được phân công làm lính công binh, tham gia đưa bộ đội và hàng hóa qua sông Thạch Hãn - nơi bom đạn như mưa suốt 81 ngày đêm của mùa Hè đỏ lửa 1972. Nơi đó, cứ mỗi ngày một đại đội qua sông và hầu như ít người trở lại. Ông Lê Quang Chẩm, anh trai của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh kể lại: Bước sang năm 1972, đế quốc Mỹ ngày càng điên cuồng bắn phá, chiến tranh diễn ra ác liệt. Giống như hàng ngàn học sinh, sinh viên thời ấy, anh Huỳnh tạm gác ước mơ học hành, hăng hái tham gia huấn luyện để chuẩn bị lên đường vào Nam chiến đấu. Trên đường hành quân, dừng chân ở đâu, Huỳnh đều tranh thủ viết thư về cho gia đình. Những lá thư được gửi về từ Quảng Trị- nơi khốc liệt nhất của cuộc chiến song vẫn thấy toát lên tinh thần lạc quan của người lính. “Sau khi vào đến Quảng Trị, chú ấy gửi cho tôi khoảng 3 - 4 lá thư. Có những bức thư chú kể công việc của mình. Vào ban đêm, là đơn vị công binh nên làm nhiệm vụ vượt sông, đưa hậu cần, đạn dược vào Thành, hỗ trợ cho đơn vị bảo vệ Thành và đưa liệt sĩ, thương binh ra. Chú Huỳnh có nói, dưới hầm của tỉnh trưởng Quảng Trị có nhiều xe đạp của Pháp đẹp lắm, giá mà mang về cho anh một chiếc thì rất thích. Cuộc chiến khốc liệt là như thế nhưng rất hài hước” – ông Chẩm kể lại. Thương những chàng trai chưa biết đến nụ hôn Chữ "yêu" tôi tìm cũng vắng trong nhật ký Chỉ ăm ắp những dòng chứa chan về mẹ Hỏi trang nào dành trọn vẹn cho em? Đặc biệt, trong những bức thư ấy, có một bức thư được viết vào tháng 11/1972, không phải là bức thư cuối cùng anh Huỳnh gửi về cho gia đình, nhưng đọc những dòng thư ấy, người ta không khỏi ngạc nhiên về những dự cảm kỳ lạ. Anh biết trước về sự ra đi của mình nhưng lại viết với một tâm thế bình tĩnh đến lạ lùng. Trích thư: “Toàn gia đình kính thương! Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng hòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột”. Thư được anh viết trước lúc hy sinh 3 tháng, khi sự khốc liệt của bom đạn đã lên đến tột cùng. Qua 40 năm, những dòng chữ đã hoen màu thời gian, chỉ có tâm tư trong lá thư viết vội, chưa kịp gửi của người lính là vẫn còn tươi mới: Trích thư: “Thư này tới tay mẹ, chắc mẹ buồn lắm. Con của mẹ đã đi xa để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu mẹ khổ đã nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song do đất nước có chiến tranh thì mẹ ơi, hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau”… Trong tâm tư dành cho mẹ già, cho người vợ mới cưới, cho anh chị, cho cha mẹ vợ, cho đứa cháu đích tôn, cho làng xóm, quê hương, anh luôn nhắc đến hai chữ “Hoà bình”. Vậy là trong mưa bom, bão đạn, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết ở nơi chiến trường được mệnh danh là “cối xay thịt” ấy, người lính Lê Văn Huỳnh vẫn sắt son niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước toàn thắng. (Ký ức Thành cổ) Những dòng thư viết cho người vợ mới cưới, anh căn dặn "Sống trong hòa bình hãy nghĩ tới anh”. Trích thư: “Em thương yêu! Mọi lá thư đến với em là nguồn động viên em khi xa anh. Song lá thư này đến tay em là nỗi buồn nhất và có lẽ là nỗi buồn đầu tiên trong cuộc đời của em. Em ạ! Chúng ta sống với nhau chẳng được là bao thì chiến tranh đã cướp đi của em bao nhiêu tình yêu thương trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều, song đối với em không những chẳng được cái diễm phúc ấy mà đã sớm phải xa rồi. Thật là vừa gặp nhau đã phải mãi mãi xa nhau”... Bức thư được anh Huỳnh gửi một đồng đội quê ở Thanh Hóa, từng có lần về nhà anh chơi lúc còn là sinh viên. Tuy nhiên, sau đó người bạn này cũng hy sinh. Bức thư vẫn nằm trong chiếc ba lô, đến tháng 3/1973, những kỷ vật này mới về tới tay người chị gái là Lê Thị Khâu do một đồng đội khác của anh Huỳnh chuyển tới. Nhưng vì thương mẹ già, thương em dâu còn quá trẻ không chịu đựng nổi sự mất mát quá lớn, chị Khâu đã giữ kín. Và đúng như lời anh viết trong thư “Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này vì với bao nỗi buồn đè nặng lên tấm thân người con gái trẻ tuổi như em”… Không biết bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu buồn đau dồn nén, và bao nhiêu can đảm, chị Đặng Thị Xơ, vợ của anh mới đọc hết được bức thư này. (Chị Xơ bên bàn thờ chồng: Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh) Chị Xơ ngậm ngùi: “Phải 2 năm sau sau tôi mới cầm lá thư này, vì chị gái của anh Huỳnh giấu. Cũng nhiều lần hỏi, đến hôm chị ấy dặn một người bạn là hôm nay đưa thư cho Xơ đọc. Tôi cầm lá thư, đúng là chỉ đọc được một dòng đầu, không thể đọc nổi nữa. Bao nhiêu lần mới đọc nổi bức thư này. Cứ đọc được mấy dòng xong lại ngồi khóc, cất đi vì không đọc nổi. Phải lâu lắm mới đọc được hết lá thư này”. Trong bức thư, người lính trẻ đã dự cảm đúng ngày mình hy sinh, 2/1/1973, tròn 1 năm kỷ niệm ngày anh cưới chị Xơ. Vốn là người cẩn thận, trong thư, anh Lê Văn Huỳnh còn ghi rõ địa chỉ nơi mình và đồng đội được chôn cất khi hy sinh, nhờ vậy mà gia đình đã tìm được hài cốt của anh, đưa về quê hương năm 2002 như tâm nguyện của anh. Cùng thời gian này, bức thư được gia đình tặng cho Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị. Từ đó, bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh được hướng dẫn viên Bảo tàng thường xuyên giới thiệu với khách tham quan. Bao nhiêu người nghe là bấy nhiêu người đã khóc. Mọi người khóc vì cảm động trước những tình cảm mà người lính dành cho gia đình, khâm phục tinh thần quả cảm, bất khuất của anh và kinh ngạc trước sự linh thiêng của linh hồn liệt sỹ. (6 ngày làm vợ, cả đời thủy chung) Đằng sau bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh là cả một câu chuyện cảm động về tình yêu vợ chồng và tình cảm của những người thân trong gia đình. Ba tháng sau khi anh Huỳnh hy sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972, mọi người đã khuyên chị Xơ “đi bước nữa” vì thương chị phải chịu cảnh “vợ góa” khi tuổi còn rất trẻ. Tuy nhiên, chị Xơ vẫn sắt son, ở vậy thờ chồng, dù được làm vợ vỏn vẹn chỉ 6 ngày và chưa kịp có con. Chị Đặng Thị Xơ đang s