Hành hương về chiến trường xưa, về với đồng đội Tuổi thiếu nữ mộng mơ, chúng tôi chuyền tay nhau chép bài thơ Tây tiến của Nhà thơ Quang Dũng. Chí khí hào hùng một thuở của những người trai Hà Nội hào hoa “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã gợi cho chúng tôi bao mơ tưởng lãng mạn. Tây Bắc rừng thiêng nước độc “ Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” liệu có còn chăng? Và những chiến binh oai hùng thuở ấy, ai mất, ai còn? Câu thơ được tạc vào vách đá này có thay cho một tấm bia tưởng niệm những người lính vô danh đã ngã xuống hay không? Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Được mời tham gia Nhóm CCB tình nguyện đi tìm đồng đội sang Lào đón hài cốt liệt sĩ, tôi xúc động. Nhiều lần gặp gỡ giao lưu với các cựu chiến binh, tôi hiểu, đã từng vào sống ra chết có nhau, đã biết nhau hơn nửa thế kỉ, tình bạn của các ông là gắn bó máu thịt, sẵn sàng xẻ áo nhường cơm. Ông Đinh Phú Lân, một trong những người sáng lập Nhóm CCB tình nguyện đi tìm đồng đội đã có khoảng thời gian từ 1965 đến 1975 công tác tại Phòng Quân lực Bộ Tham mưu đoàn Chuyên gia quân sự 959 và Bộ Tư lệnh 31. Tự tay ông đã viết giấy báo tử cho hàng trăm liệt sĩ hi sinh trên đất Lào và làm chế độ chính sách cho những người trở về. Mấy chục năm sống ở Hà Nội, ông vẫn không nguôi nhớ về những đồng đội còn nằm lại chiến trường xa. Đau đáu trong ông điều tâm niệm phải đưa các anh về. Không đưa được anh ấy về là có tội”. Trong các cuộc họp mặt hàng năm, các cựu chiến binh lại nhắc tên những đồng đội chưa về, thao thiết một lời kêu gọi: “Phải tìm cách đưa các anh về thôi. Lớp chiến binh xưa giờ tuổi đã thất thập, liệu còn đủ thời gian tìm kiếm và đưa các anh về cho khỏi tủi vong linh?”. Nhà nước đã có chính sách về việc tìm kiếm và qui tập mộ liệt sĩ, nhưng các ông biết vẫn còn nhiều chiến binh nằm lại chiến trường C. Có ông day dứt: “Tự tay tôi chôn anh ấy, vẫn nhớ địa hình. Không đưa được anh ấy về là có tội”. Rừng núi mịt mù, biển dâu dời đổi, việc tìm kiếm không phải một vài lần đã thành công. Để có kinh phí cho những chuyến đi, các cựu chiến binh đã dành dụm những đồng lương hưu ít ỏi của mình, kêu gọi chút tiền tài trợ của đồng đội. Lần đến gặp Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Cựu Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, ông Vĩnh đã khóc: “Chí muốn đi lắm nhưng ko còn sức nữa” và ủng hộ anh em 2 triệu đồng. Ông Nguyễn Đức Mai, người có công rất lớn trong việc tìm mộ lần này có sáng kiến mang theo một hòm quyên góp đến chỗ tập thể dục buổi sáng ở Hồ Tây, kể về công việc nghĩa cử mà ông và đồng đội đang theo đuổi. Câu chuyện của ông đã làm rơi nước mắt bao người. Bà nội trợ bớt chút tiền rau, ông xe ôm góp tiền một cuốc xe, bác công chức nhịn bữa quà sáng… Tất cả những đồng tiền thấm mồ hôi, nặng trĩu nghĩa tình ấy đã được các cựu chiến binh trân trọng, gom góp dùng cho chi phí tàu xe những lần đi tìm kiếm. Đồng đội ở các địa phương gần đó đón các bạn về ăn ngủ tại nhà, lo tìm kiếm, cung cấp thông tin, dùng xe cá nhân đưa các bạn đi. Các vị Đại đức phát tâm làm việc thiện, đến tận nơi làm lễ cầu siêu, không quản khó nhọc, lại còn chia chút lộc Phật cho đồng bào những vùng heo hút. Chính quyền địa phương cũng giúp đỡ rất nhiều, tạo điều kiện cho việc tìm kiếm, đưa hài cốt các liệt sĩ về được thuận lợi Bản Lao Khô nằm sát biên giới, thuộc huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. 60 năm trước, già bản Lao Khô đã tự tay chôn cất hai cán bộ người Việt: một là đồng chí Nguyễn Tín và một đồng chí chỉ biết bí danh hoạt động trên đất Lào là Khăm Nhọt, không biết tên Việt là gì, quê quán ở đâu. Khi ngã xuống vào năm 1952, hai đồng chí còn rất trẻ. Cụ Nguyễn Văn Khuông, (sinh năm 1922, cán bộ tiền khởi nghĩa, năm 1945 đã tham gia xây dựng lực lượng bảo vệ cách mạng Sầm Nưa. Cụ cũng là một trong 25 thanh niên Việt Kiều ở Sầm Nưa gia nhập đoàn quân Tây Tiến ngay từ ngày đầu thành lập 27/2/1947 cho đến năm 1981 mới về Hà Nội nghỉ hưu) đã gặp đồng chí Nguyễn Tín, vẫn nhớ đồng chí người cao ráo, giỏi tiếng Lào, tiếng Pháp, còn đồng chí Khăm Nhọt cụ chưa gặp bao giờ. Từ tháng 8/2011 đến nay, nhóm CCB tình nguyện đi tìm đồng đội đã tổ chức nhiều chuyến đi, xác định địa hình địa vật và sơ bộ kết luận mộ của hai đồng chí nằm trên đất của bản Phiêng Sa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào). Các ông đã đặt quan hệ với chính quyền nước bạn Lào và tranh thủ được sự giúp đỡ của Đội Qui tập tỉnh Thanh Hóa, trưởng nhóm là ông Phong. Trong chuyến đi thứ 4, Đội xác định vị trí chôn hai đồng chí là dưới nền nhà một người dân bản và xin phép tiến hành khai quật. Người dân cũng sốt sắng, nhiệt tình cho dỡ căn nhà mình, bới nát đất nhưng không thấy. Chuyến đi thứ 5 này, rất may mắn, nhóm CCB tình nguyện đi tìm đồng đội đã liên lạc được với Tiến sĩ Vũ Bằng (số ĐT 0913203452), nhà khoa học cùng lứa tuổi thất thập như các ông. Xót xa trước việc tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm chỉ mang lại kết quả 1%, ông đã nghiên cứu ra máy dò tìm hài cốt, dựa trên lí thuyết đo “tia đất” (bức xạ điện từ). Theo ông, con người khi chết đi, phần xác trong quá trình tiêu hủy sẽ bức xạ ra những “từ trường” cao gấp hàng nghìn lần ở người sống. “Từ trường” này được gọi là “trường vong”. “Trường vong” vô hình nhưng sẽ tồn tại hàng nghìn năm trong khi động vật không có được tính chất đó. Từng tế bào, mô, xương, lục phủ ngũ tạng của người đều sinh ra “trường vong”. Đặc biệt, hệ thần kinh và bộ não người bức xạ ra “trường vong’ mạnh nhất và tập trung nhất. 6 năm qua, với một chữ TÂM và chiếc máy của mình, Tiến sĩ Vũ Bằng đã đi khắp trong Nam ngoài Bắc, dò tìm được mấy ngàn mộ liệt sĩ. Ông chính là người góp công lớn trong việc trục vớt chiếc ô tô cùng 20 hành khách bị cuốn trôi trên sông Lam trong trận lũ năm 2010. Ông cũng dùng chiếc máy của mình tìm được chính xác vị trí hai nạn nhân vụ sập mỏ đá Lèn Cờ đầu tháng 4/2011. Biết việc làm thắm tình đồng đội của các Cựu chiến binh, ông đã tình nguyện cùng hai cựu chiến binh Mai và Nguyên đi tiền trạm từ 12/3/2012. Nhờ có chiếc máy của