PHAN ĐÔNG VIÊN Ngày xưa, dọc đường từ Thạch Thất đến Chùa Hương vẫn còn lác đác những gò, đồi, núi thấp... đó là đoạn cuối của mạch núi thiêng Tản Viên (Ba Vì ngày nay). Nhân dân trong vùng còn kể những truyền thuyết từ thời Hùng Vương 2300 năm trước: Một ngày đẹp trời sau tết nguyên đán, Sơn Tinh là Đức Thánh Tản - một trong 4 vị thánh tứ bất tử của Việt Nam đi thăm các làng quê trên dọc tuyến cuối mạch núi thiêng. Ngài dừng chân tại vùng đất nay là trung tâm huyện Quốc Oai, được nhân dân đón chào vô cùng thành kính. Trước đông đảo nhân dân, Ngài nói rằng: Tản Viên Sơn Thánh - người cai quản cả vùng núi thiêng này có mong muốn nhân dân trong vùng luôn được ấm no hạnh phúc, nên nhân dịp tiết xuân đến thăm dân làng, cùng đi có 10 tùy tùng, mỗi tùy tùng giỏi 10 nghề, có thể giúp đỡ nhân dân làm những việc có ích, dần dần bỏ hẳn phương thức sống cũ là săn bắt hái lượm, trang phục chỉ có đóng khố, áo bằng lá cây, da thú... Trước mắt muốn no phải biết canh tác, chăn nuôi Tùy tùng sẽ dậy cho dân biết trồng 5 loại cây lương thực có hạt ăn được gọi là ngũ cốc gồm: 1. Lúa tẻ ; 2. Lúa nếp; 3. Ngô; 4. Đậu; 5.Kê, cùng 2 loại lương thực phụ là khoai, sắn và cách trồng các loại rau, củ, quả. Chăn nuôi, thuần dưỡng lục súc (6 gia súc) để làm sức kéo trong canh tác, vận chuyển và làm thức ăn, lục súc đó là: 1. Trâu; 2. Bò; 3.Ngựa; 4. Dê; 5. Lợn; 6. Chó. Ngoài ra còn chăn nuôi gia cầm. Muốn ấm thì phải có vải, Tùy tùng sẽ dậy dân biết trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ, dệt vải để may quần áo. Công tích của Đức Thánh Tản là trị thủy, chống thiên tai thảm họa mà chiến thắng của Ngài trước Thủy Tinh đã chứng minh, Ngài còn sai tùy tùng dậy dân đắp đê, làm thủy lợi, dùng vật liệu sẵn có nhiều của địa phương như đá ong, đất sét, sỏi, cát, vôi... để xây những hồ, giếng chứa nước ăn, những cầu cống dân sinh...Ngài còn sai tùy tùng dậy dân làm những nghề trong lúc nông nhàn như: đan lát tranh tre nứa lá, làm những nông cụ và dụng cụ cho đời sống, dụng cụ săn bắt cá và thú rừng v.v... Ngoài ra Ngài còn gặp gỡ các bô lão, các già làng trưởng bản yêu cầu và khuyên nhủ toàn thể trai gái đến tuổi cập kê phải lấy vợ lấy chồng để sớm sinh con đẻ cái, vừa bảo tồn nòi giống vừa để liên tục có đủ dân số là lực lượng lao động sản xuất cần thiết để cộng đồng tồn tại. Ngài còn dậy dân phải biết nhớ ơn những người đi trước, những bậc tiền nhân, những anh hùng hào kiệt đã gây dựng và bảo vệ nên quê hương này cho người dân bây giờ được vui sống. Ngài nói rằng: một dân tộc mà quên quá khứ thì sẽ không có tương lai! trước mắt cần dựng những cái am bằng tranh tre để thờ cúng, tưởng vọng những thành hoàng làng, những vị thần cứu giúp bảo vệ dân... Ngài còn cho lấy những biến điệu, biến tấu của làn điệu hát Xoan là làn điệu cung đình trên Phong Châu - kinh đô của Hùng Vương chuyển thành những làn điệu dân ca trong vùng như hát Dô, hát Bỏ Bộ, hát Chúc, hát Ví, hát Đối, Ca trù... trong đó có những làn điệu thờ cúng, tâm linh, có những làn điệu làm cho đời sống tươi vui với lời ca trữ tình nồng thắm... Như vậy cuộc sống của nhân dân sẽ được hài hòa. Nhân dân vùng Quốc Oai đã thấm nhuần lời dậy của Đức Thánh Tản và cùng nhau thực hiện. Chỉ trong nửa tháng thăm dân, Đức Thánh Tản và 10 tùy tùng đã dậy cho dân 100 nghề, cho nên bây giờ Quốc Oai là một trong số các địa phương nhiều làng nghề nhất trong vùng. Ngày nay Quốc Oai là huyện có bề dày văn hóa lịch sử và truyền thống, cùng với những bước trưởng thành của sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh, Quốc Oai đã trở thành một địa chỉ phát triển toàn diện điển hình của Thủ đô. Con người của vùng đất này từ xưa đến nay Văn tài cũng lắm mà Tướng lĩnh cũng nhiều. Được sống trong những làn điệu dân ca truyền thống, lại được bổ sung bằng văn hóa cồng chiêng nổi tiếng của xã Đông Xuân, 85% là người Mường, sự nghiệp văn hóa riêng của Quốc Oai ngày càng đặc sắc. Vùng đất Thánh Tản dừng chân nay là 2 xã Liệp Tuyết và Ngọc Mỹ là quê hương sản sinh ra 3 nhạc sĩ nổi tiếng: 1. NS Doãn Quang Khải: sinh năm 1925, tác giả khúc quân ca truyền thống của QĐND Việt Nam Vì nhân dân quên mình . 2. NS Nguyễn Mạnh Thường: sinh năm 1928, biên tập viên Ban Âm nhạc Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam lâu năm - là một trong những người có công chọn lọc và quảng bá những tác phẩm âm nhạc cách mạng cho quân dân cả nước. 3. NS Đỗ Dũng: sinh năm 1939, là Giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (Dàn nhạc quốc gia) - là một trong những người có công đưa những tinh hoa âm nhạc quốc tế về Việt Nam, làm phong phú đời sống âm nhạc cho nước nhà. NS. Doãn Quang Khải, sinh ngày 10/8/1925 tại quê hương: thôn Phú Mỹ, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội (thời nhà Nguyễn gọi là Phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) con cụ giáo Doãn Huy Thông (sinh năm 1896) và cụ Phan Thị Mỵ, sinh năm 1898 - làm ruộng. Sau này Doãn Quang Khải lấy bút danh là Phan Doãn (họ Mẹ + họ Cha). Thuở nhỏ Doãn Quang Khải được đi học hết trung học cơ sở, tự học biết ký âm, chơi đàn mandoline, và đi học nghề đánh máy chữ. Để kiếm sống, năm 17 tuổi (1942) xin được việc làm thư ký đánh máy cho 1 hiệu buôn ở Hải Phòng, đến cuối năm 1944 do hiệu buôn đóng cửa nên Doãn Quang Khải mất việc ! Cũng để kiếm sống, Doãn Quang Khải đăng lính khố đỏ, binh chủng thông tin liên lạc ngành vô tuyến điện. Mới học được nửa chương trình (3 tháng) thông tín viên thì ngày 9/3/1945 nổ ra cuộc Nhật đảo chính Pháp, đến 10/3/1945 Phát xít Nhật bắt cả toàn quyền Pháp và các quan chức cao cấp Pháp, tấn công các đồn binh Pháp, Pháp thua ở tất cả các căn cứ, tàn quân Pháp và lính đánh thuê lê dương phải tháo chạy lên biên giới phía Bắc. Phát xít Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương. Tất cả các sắc lính bản xứ khố xanh, khố đỏ tự bỏ ngũ, rã ngũ trở về quê quán. Ngày 17/3/1945 Doãn Quang Khải về quê, được tuyên truyền vận động Doãn Quang Khải đã tích cực tham gia ngay các hoạt động ở quê hương, cuối tháng 3/1945 được kết nạp vào Đội thanh niên cứu quốc tham gia các hoạt động văn hóa cổ động, tuyên truyền ở địa phương. Đến Cách mạng tháng 8 thì chính thức vào bộ đội cho đến khi về hưu. Tháng 12