PHAN ĐÔNG VIÊN Sau khi quân phát xít ở Đông Dương bị lực lượng Đồng minh giải giáp, quân Pháp thực hiện dã tâm dùng vũ lực tái chiếm và bình định Đông Dương. Thực hiện chiến lược trường kỳ kháng chiến, để chuẩn bị, từ tháng 11/1946 toàn bộ các cơ quan đầu não của mặt trận Việt Minh cùng các cơ sở vật chất, kho tàng, công xưởng và hơn 6 vạn nhân dân miền xuôi trong đó có nhân dân Hà Nội đã lần lượt chuyển lên An toàn khu (gồm 5 huyện của Việt Bắc: Đại Từ + Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, Sơn Dương + Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang và Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn). Một số lớn nhân dân Hà Nội cũng kịp thời tản cư sang các tỉnh khác. 8 giờ tối ngày 19/12/1946, sau phát đại bác và khối bộc phá lớn ở pháo đài Láng nổ vang trời Hà Nội như một tiếng pháo lệnh, đèn điện toàn thành phố vụt tắt, tất cả lực lượng Vệ quốc đoàn, Công an xung phong và dân quân tự vệ thành Hà Nội đồng loạt nổ súng tấn công phủ đầu các đồn bốt Pháp xung quanh Hà Nội. 8 giờ 30 tối điện thành phố được nối lại, Đài phát thanh truyền đi lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch và mệnh lệnh chiến đấu của Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, kể từ đây không chỉ ở Hà Nội mà trong toàn lãnh thổ Việt Nam một cuộc chiến tranh toàn diện với thực dân Pháp đã bắt đầu. Với tinh thần Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh , các lực lượng vũ trang và nhân dân Hà Nội đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ngoan cường, giành giật với quân Pháp từng căn nhà góc phố, đục tường ngang dọc thông nhà nọ sang nhà kia, phố nọ sang phố kia để làm đường chuyển quân bi mật, đem hết cánh cổng, giường phản, sập gụ tủ chè ra làm chướng ngại vật chặn các ngã ba ngã tư cản đường quân Pháp, các em liên lạc, các chị cứu thương di chuyển theo từng bước quân đi, nhân dân tiếp tế cho bộ đội ngay tại chốt chiến đấu, tạo nên không khí quyết chiến sôi sục trong toàn thành phố. Để thống nhất lực lượng và chỉ huy trên mặt trận Hà Nội, ngày 6/1/1947 thành lập Trung đoàn thủ đô. Sau một thời gian chiến đấu, do quân số và vũ khí có hạn, hậu cần khó khăn khan hiếm, Trung ương đã quyết định: để bảo toàn lực lượng thực hiện kháng chiến lâu dài, ngày 17/2/1947 Trung đoàn thủ đô và các đơn vị chiến đấu rút lên Việt Bắc. 60 ngày đêm kiên cường chiến đấu, lực lượng ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của giặc Pháp, Bác Hồ đã khen ngợi: "Các chú kìm chân giặc Pháp, giữ được Hà Nội 2 tháng là đã thắng lớn". Trên đường lên chiến khu, lòng người ra đi vẫn đau đáu nhớ về Hà Nội, từ 1948 các nhạc sĩ đã có các ca khúc nổi tiếng như Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Ngày về của Lương Ngọc Trác - lời thơ Chính Hữu, năm 1949 có những bài Tiến về Hà Nội của Văn Cao, Hà Nội đây rồi của Văn Đức, Sẽ về thủ đô của Huy Du... tất cả đều toát lên lòng hoài niệm, nỗi nhớ thương và niềm khát vọng của người chiến sĩ Hà Nội nóng lòng trở về giải phóng quê hương. Nhạc sĩ chiến sĩ Lương Ngọc Trác cùng 2 Vệ út trong những ngày Toàn quốc kháng chiến. Lên chiến khu, quân đội ta đã tập trung củng cố bổ sung lực lượng, cuối năm 1947 ta đã có 12 vạn quân, thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với phương châm truyền thống của cha ông chống ngoại xâm là lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, đồng thời tiến hành chiến thuật quân sự theo 3 giai đoạn từ phòng ngự đến cầm cự rồi tổng phản công, xây dựng lực lượng vũ trang hùng hậu gồm 3 thứ quân: chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, trong 8 năm từ 1947 đến 1954 đã tiến hành thắng lợi 5 chiến dịch lớn ở miền Bắc: 1. Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 (từ 7/10 đến 22/12/1947): ngày 7/10/1947 Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn và đưa 12 nghìn quân tấn công Việt Bắc với âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não của Việt Minh. Quân ta đã phản kích với 3 trận điển hình là trận sông Lô, trận đèo Bông Lau trên đường số 4 và trận đường số 3 bẻ gãy gọng kìm bao vây, đuổi quân Pháp ra khỏi trung tâm Việt Bắc, chúng chỉ còn cố giữ đường số 4 từ Cao Bằng đến Lạng Sơn. 2. Chiến dịch Biên giới thu đông 1950 (từ 16/9 đến 14/10/1950): với sự kiện Hồ Chủ tịch lần đầu và duy nhất trực tiếp ra mặt trận chỉ huy chiến đấu, trong 28 ngày đêm đã phá vòng vây cô lập lực lượng ta, đánh đuổi quân Pháp khỏi đường số 4, mở thông tuyến biên giới để liên lạc với bạn bè quốc tế. 3. Chiến dịch Hòa Bình (từ 10/11/1951 đến 25/2/1952): diễn ra tại vùng sông Đà, thị xã Hòa Bình và đường số 6, quân ta đã phá vỡ âm mưu lập Xứ Mường tự trị và phòng tuyến sông Đà của thực dân Pháp, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng vùng đất khoảng 5 nghìn km2 với gần 2 triệu dân. 4. Chiến dịch Tây Bắc thu đông 1952 (từ 14/10 đến 10/12/1952): Ta đã phá âm mưu của Pháp định thành lập Xứ Thái tự trị, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng vùng đất 30 nghìn km2 và 25 vạn dân. 5. Chiến dịch Điện Biên Phủ mùa xuân 1954 (từ 13/3 đến 7/5/1954) 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, bộ đội ta đã xóa sổ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Điện Biên Phủ, buộc chính phủ Pháp phải ký Hiệp nghị Genève chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho 3 nước Đông Dương. Thực hiện các điều khoản của Hiệp nghị Genève, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp đã tổ chức hội nghị tại Trung Giã (trên đồi thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã, huyện Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên cũ) quyết định những thủ tục chuyển giao: - Ngày 30/9/1954 hai bên ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về quân sự. - Ngày 2/10/1954 hai bên kí Hiệp định chuyển giao Hà Nội về hành chính. với nguyên tắc chuyển giao là: trật tự, an toàn, không được phá hoại, không làm gián đoạn các hoạt động của thành phố. Từ ngày 2 đến ngày 5/10/1954 các đội tiền trạm của ta đã vào Hà Nội để chuẩn bị. Tối 9/10/1954 các lực lượng quân đội ta đã tập kết vào các cửa ô để sáng 10/10/1954 tiến hành tiếp quản Hà Nội. Sau 8 năm kể từ ngày dời Hà Nội, giấc mơ và khát vọng trở về giải phóng thủ đô của những người lính trẻ đã trở thành hiện thực. Sáng tinh mơ ngày 10/10/1954 đông đảo nhân dân Hà Nội quần áo mới chỉnh tề, tập trung 2 bên các con đường mà đoàn quân giải phóng sẽ đi qua, với rừng cờ hoa, khẩu hiệu và nét mặt hân hoan hồi hộp đón chờ, c