Tổ quốc nhân dân ghi công ơn, Hy sinh vì nghĩa khí quật cường; Người ngã xuống núi sông đứng dậy, Liệt sỹ gắn liền những chiến công. Mỗi trang vàng cuả lịch sử Cách mạng Việt Nam đều gắn với những người con tiết liệt. Một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đạo lý này đã được biểu hiện rõ trong nền ca khúc cách mạng Việt Nam. Một tỷ lệ bài hát đáng kể đã được dành để nói về những anh hùng liệt sĩ- những người con trung hiếu cuả Tổ Quốc. Bài hát ra đời sớm nhất để ghi công đức những chiến sĩ đã quên thân mình, hy sinh vì dân vì nước là Hồn tử sĩ của Lưu Hữu Phước. Bằng một giai điêu trầm lắng, tiết tấu chậm rãi, bài hát như một khúc mặc niệm của những người còn sống trước vong linh những người đã ngã xuống: “Đêm khuya âm u, ai khóc than sương mù…” . Với tính khái quát cao của lời ca và hình tượng âm nhạc, ca khúc này đã trở thành “bài ca mặc niệm” của mọi người tại các buổi lễ sau khi chào cờ, bằng phần diễn tấu nhạc không lời cuả dàn quân nhạc. Mỗi trang vàng cuả lịch sử Cách mang Việt nam đều gắn với những người con tiết liệt. Tên tuổi những Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Kim Đồng, Lê Văn Tám… mãi sống trong sự ngưỡng mộ và biết ơn của các thế hệ người Việt Nam. “Trường sơn xẻ dọc, rọc ngang Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng Trường Sơn vượt núi băng sông Xe đi trăm ngả chiến công bốn mùa Trường Sơn đông nắng, tây mưa Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.” Nhạc sĩ Phong Nhã có bài Kim Đồng được hết thảy thiếu nhi và người lớn ưa tích: “Kim đồng quê hương Việt Bắc xa mù, Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù…” . Người Việt Nam không ai không biết Võ Thị Sáu, người con gái đã đi vào huyền thoại khi mới 16 tuổi, và bài “ Biết ơn chị Võ Thị sáu ” của Nguyễn Đức Toàn ra đời cách đây gần 50 năm quả xứng đáng với tầm vóc lớn lao của sự hy sinh cao cả đó. Bằng một loạt những nốt luyến ở các chùm ba, tác giả tạo ra tiếng khóc nức nở nghẹn ngào của người còn sống trước cái chết kiêu hùng của người con gái còn rất trẻ quê ở vùng đất đỏ Bà Rịa: “Mùa hoa lê ki ma nở, ở quê ta miền đất đỏ, thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa…” Nếu những Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu không khuất phục trước kẻ thù, sẵn sàng đón nhận cái chết trước mũi súng quân thù để “cho lá cây thêm xanh” (ca ngợi Lý Tự Trọng) , để “mùa hoa lê ki ma nở, mầm xanh lan tràn xứ sở” (biết ơn VõThị Sáu) thì những Bế Văn Đàn, Ngô Mây lại không tiếc thân mình cho một trận đánh thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. "Cứ hẹn bạn sau ngày giải phóng Sẽ vào tìm đưa đồng đội về quê Dằn dỗi chiến tranh, dãi dầu dâu bể Mãi hôm nay mới đưa được bạn tôi về" Nếu Bế Văn Đàn đã lấy thân mình làm giá súng để đi vào bài Bế văn Đàn sống mãi của Huy Du thì Ngô Mây lại dũng cảm ôm bom lao vào quân giặc để thành một hình tượng rất đẹp trong Bài hát Ngô Mây của Nguyễn Đức Toàn. Nối tiếp truyền thống những người lớp trước, sau này, những Lê Thị Hồng Gấm, Lê Đình Chinh đã tô đẹp thêm trang sử anh hùng! Về hai người con trung hiếu này, nhiều bài hát hay gây xúc động lòng người đã ra đời: Những cánh chim Hồng Gấm (Phạm Tuyên), Hát về Lê Đình Chinh (Bảo Chung). Năm 1965, một sự kiên chấn động dư luận toàn cõi Việt nam. Đó là hành động dũng cảm tuyệt vời cuả người thợ điện trẻ quê ở Quảng Nam có tên Nguyễn Văn Trỗi đã không sợ chết, tìm cách tiêu diệt tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là Mắc-Na-Ma-Ra. Viêc không thành, anh bị bắt và bị xử bắn. Những phút ở pháp trường trước khi ngã xuống, anh đã khiến tất cả mọi người - kể cả quân thù - phải cảm kích, để Tố Hữu sau đó viết nên những câu thơ : Có những phút làm nên lịch sử, có cái chết hoá thành bất tử. Có những lời hơn mọi bài ca. Có những người như chân lý sinh ra…”. Đó là ngày 15/10/1965 - một ngày có thể nói đã làm rung chuyển dư luận nước Mỹ. Ngay sau đó hàng loạt bài hát xúc động về sự kiên này đã ra đời: Lời anh vọng mãi ngàn năm (VũThanh), Ca ngợi Nguyễn Văn Trỗi (Hiền An), Nguyễn Văn Trỗi- anh còn sống mãi (Nguyễn Đức Toàn). "Chết không còn tuổi đã đành Cái tên mẹ đặt cũng thành khói mây Biết hồn xanh cỏ, xanh cây “Vô danh” vẫn cứ đắng cay lòng mình!" Cái chết kiêu hùng cuả người công nhân điện thành phố Saì Gòn đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh Cách mạng vốn đang sục sôi khắp miền Nam trước sự dày xéo cuả Đế quốc Mỹ: “Noi gương anh còn có triệu người. Cả miền Nam đang sôi tim gan, cuồn cuộn dâng lên như phong ba, dìm đầu quân cướp Mỹ xâm lăng…” (Lời anh vọng mãi ngàn năm - Vũ Thanh) Đó là những người con đã ngã xuống, vĩnh viễn yên nghỉ giữa lòng đất mẹ quê hương. Tất cả những bài hát nói về họ đều có giai điệu thâm trầm lắng đọng nhưng không não nề mà luôn vút lên âm hưởng khoẻ khoắn hào sảng. Dễ hiểu bởi cái chết của họ là sự hy sinh vì nghĩa lớn, vì sự sống còn của Tổ Quốc, vì vận mạng của dân tộc. Lý tưởng cao đẹp ấy đã thổi vào những bài hát viết về Anh hùng liệt sĩ một không khí vừa bi tráng lại vừa lạc quan. Và còn rất nhiều những người con trở về sau các cuộc chiến không lành lặn vẹn nguyên, đã gửi lại chiến trường một phần xương thịt. Trở về quê hương họ đã sống giữa sự ngưỡng mộ biết ơn cuả cộng đồng. Phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ luôn được phát huy ở những người thương binh này. Đó chính là nội dung được biểu hiện trong rất nhiều bài hát thành công, được công chúng ưa thích: Ngưòi thầy giáo thương binh, Anh thương binh về làng (Nguyễn Đức Toàn), Vết chân tròn trên cát (Trần tiến), Cỏ non thành cổ (Tân Huyền), Ngày trở về (Nguyễn Đình San)… "Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ Dưới sông còn đó bạn tôi nằm Có tuổi hai mươi thành sóng nước Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm" Trần Tiến là một nhạc sĩ luôn tìm tòi ‘tứ” văn học cho những ca khúc cuả mình. Hình tượng “vết chân tròn trên cát” đồng thời được đặt tên cho bài hát, đã có sức biểu cảm lớn, giàu sức thuyết phục. Người thương binh cụt chân trở về làng trở thành một thầy giáo. Anh phải chống nạng đi trên quãng đường xa đầy cát trắng để đến trường. Và chiếc nạng kia - chiếc chân thứ hai của anh - đã để lại những vết tròn trên cát. Tác giả không nói đó là vết nạng mà nói “vết chân tròn”