Gặp cô dân quân làng Đỏ từng bắn rơi máy bay Mỹ

(Dân trí) - “Ngày theo vết đường cày, đêm về xây đường đắp ụ, nắng dù sém má em, mưa gió dãi dầu lòng vẫn vui như pháo hoa đỏ rọi, đánh thắng quân thù trên mảnh đất quê h ương” - câu hát thôi thúc chúng tôi tìm cô dân quân đã hóa thân vào những lời ca.

Nữ dân quân bắn rơi máy bay Mỹ

Chúng tôi tìm đến nhà “O dân quân làng Đỏ” Nguyễn Thị Dần khi trời đã nhá nhem tối. Ký ức hào hùng được tái hiện khi mà những giọt nước mắt của nữ dân quân làng Đỏ anh hùng lại ầng ậc dâng trào.

Năm 1967, vừa tròn 17 tuổi, cô gái Nguyễn Thị Dần xung phong vào Trung đội dân quân trực chiến phòng không xã Hưng Dũng (nay là phường Hưng Dũng, TP Vinh, Nghệ An). Trung đội dân quân trực chiến phòng không Hưng Dũng gồm 9 nữ, 3 nam có trách nhiệm phục kích, trực chiến, hợp đồng chiến đấu với bộ đội và lực lượng phòng không của Thành đội Vinh. Với 1 khẩu 12 ly 7, H53 và K54, trung đội có nhiệm vụ bảo vệ các trọng điểm như phà Bến Thủy, nhà máy điện, kho xăng, Thành ủy Vinh.

Bên ấm chè xanh cuối chiều vẫn còn đặc quánh, rót nước mời chúng tôi, bà Dần kể lại: “Những năm 1967-1968, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ càng trở nên ác liệt. Các trọng điểm của thành phố bị dội bom điên cuồng suốt ngày đêm. Có ngày máy bay Mỹ ném 14 lần bom xuống thành phố. Chúng tôi gần như không có thời gian để ăn cơm. Nhiều khi, các mẹ, các chị đội bom ra trận địa tiếp tế, cơm đến tay dân quân thì đã được phủ một lớp đất cát rồi.

Ngày 13/6/1968, bộ đội phòng không bắn hạ được một chiếc máy bay Mỹ, viên phi công nhảy dù hạ xuống sông Lam chờ đồng đội giải cứu. Các lực lượng dân quân quyết tâm bắt sống tên giặc lái.

Để giải cứu đồng đội, lúc đó Mỹ huy động máy bay A6, F4 bay sát bờ sông Lam, rải bom như vãi trấu xuống các trận địa. Nhiệm vụ của trung đội chúng tôi là yểm trợ cho các du kích bắt sống tên giặc lái. Máy bay Mỹ bổ nhào, có những lúc gần như sát mặt nước khiến pháo tầm trung và tầm cao không thể phát huy tác dụng. Quyết không để sổng tên giặc lái, chúng tôi nhổ các cọc trận địa, kéo súng lên trên mặt đê chĩa nòng xuống lòng sông bắn yểm trợ.

Dưới sự yểm trợ của Bộ đội chủ lực và lực lượng dân quân trực chiến phòng không Hưng Dũng, báy may Mỹ đành phải nâng độ cao rồi tháo chạy. Lúc đó, đồng chí Lê Thái cùng một số anh em bơi thuyền ra sông Lam tóm gọn trên giặc lái giải về Thành đội để các anh em khai thác thông tin”.

Trong trận trực chiến bảo vệ cuộc bầu cử HĐNĐ các cấp ngày 28/4/1968, o Dần bị sức ép của bom ngất đi, những mảnh bom cắm vào vai được đồng đội đưa đến bệnh viện dã chiến chữa trị. Vết thương chưa kịp lên da non, o Dần nằng nặc đòi về trận địa cùng anh em trực chiến. Năm đó, cô gái chưa đầy 20 tuổi xanh ấy nổi tiếng gan lỳ và cực khỏe. Ống quần luôn xắn đến đầu gối, nhảy xuống trận địa, với vai trò là xạ thủ số 1, o Dần một mình kéo cò, lắp đạn vào nòng khẩu 12 ly 7 thành thạo, nhẹ nhàng như cánh thanh niên trai tráng. Cái dáng hình gầy guộc nhỏ bé với hai bím tóc tết đuôi sam thả dài sau lưng ấy lẩn khuất sau đám bụi mù sau những loạt bom rồi nở một nụ cười rạng rỡ khi đám bụi vừa tan là chỗ dựa vững chắc cho nhiều nữ dân quân của Trung đội phòng không hồi bấy giờ.

Để đảm bảo an toàn, trận địa pháo phòng không phải liên tục di chuyển. “Hôm đó là ngày 25/7/1968, khi đó trung đội chúng tôi vừa kéo súng xuống Ga Vinh, đang triển khai luyện tập thì 2 máy bay F4H bay từ hướng Tây bổ nhào dội bom bắn phá Ga Vinh. Tôi nhảy xuống công sự. Chiếc máy bay bổ nhào đúng tầm ngắm của khẩu K53, tôi siết cò.

Và trong tích tắc chiếc máy bay bốc cháy rồi chao đảo, rơi xuống. Mọi người nhảy ra hò hét, reo mừng còn tôi thì đứng bất động. Chỉ đến khi các anh cán bộ, các đồng đội nhảy xuống công sự ôm tôi, nói như hét vào tai “Mi bắn trúng rồi, máy bay rơi rồi Dần ơi”, tôi mới bừng tỉnh. Ôm nhau nhảy mà nước mắt rơi như mưa”, bà Dần nhớ lại quá khứ hào hùng.

Từ nguyên mẫu cô dân quân Nguyễn Thị Dần, nhạc sĩ Nguyên Nhung đã sáng tác ca khúc “Cô dân quân làng Đỏ” với những ca từ tái hiện hình ảnh rực sáng của các nữ dân quân trực chiến phòng không:

"...Từ chiến hào tay súng em dương lê đến đường cấy lúa hàng hàng thẳng tắp em trải đẹp đời lên từng mảnh đất. Nghĩa chiến trường và hậu tuyến hai vai hẹn người đi chiến đấu hôm mai đã có em đứng giữ đất này… Em đi tiếp đạn lên núi, em xông pha giữa chiến hào và tiếng súng em gầm vang trong lửa khỏi vạch từng đường, đạn sáng rực trời cao. Ngày theo vết đường cày, đêm về xây đường đắp ụ, nắng dù sém má em, mưa gió dãi dầu lòng vẫn vui như pháo hoa đỏ rọi, đánh thắng quân thù trên mảnh đất quê hương. Hỡi cô gái thân thương anh dũng kiên cường…".

Sau trận bắn rơi máy bay đó, Nguyễn Thị Dần được tiếp tổng cộng 18 đoàn nhà báo đến tìm hiểu, được Quân ủy Trung ương cho đi cùng sang thăm nước Nga Xô Viết. Khi được một vị lãnh đạo cấp cao nước bạn hỏi tại sao nữ du kích Việt Nam mà không mang theo súng, Nguyễn Thị Dần khảng khái: “Ở đây là một nước Xô Viết anh hùng, đất nước hòa bình nên tôi không cần phải mang theo súng. Còn ở đất nước tôi, những dân quân du kích phải luôn sẵn sàng chiến đấu, dù là khi sản xuất hay khi ngủ...”.

Nỗi niềm “O dân quân làng Đỏ” ngày ấy - bây giờ

Mỹ kết thúc chiến tranh phá hoại, cô dân quân Nguyễn Thị Dần được chuyển sang làm cán bộ hộ tịch, hộ khẩu rồi xã đội phó phụ trách chính sách, văn phòng Đảng ủy xã Hưng Dũng. Năm 21 tuổi, bà trở thành đại biểu HĐNĐ trẻ nhất tỉnh Nghệ An đồng thời là đại biểu Đại hội Mặt trận trung ương khóa 3.

“Lần tham dự Đại hội Mặt trận Trung ương tôi vinh dự được gặp bác Tôn Đức Thắng. Chia kẹo cho chúng tôi, bác Tôn dặn: “Kẹo có thể chia nhưng nước thì không thể chia”. Câu nói đó khắc sâu trong tâm trí tôi, là động lực để tôi hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ cấp trên giao phó”, bà Dần nhớ lại.

Được cấp trên tin tưởng, bà tiếp tục giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền xã Hưng Dũng. Năm 1982 là Ủy viên thư ký Ủy ban nhân dân, từ năm 1986-1996 là Chủ tịch UBND xã Hưng Dũng.

Năm 1997, bà được cử đi học nâng cao nghiệp vụ để bố trí công tác khác. Cũng trong năm đó, người chồng thân yêu của bà đột ngột ra đi sau một vụ tai nạn. Một mình bà gắng gượng vừa học, vừa thay chồng chăm người mẹ già hơn 80 tuổi và 4 đứa con đang tuổi ăn tuổi học. Nhưng oái ăm thay, khi vừa hoàn thành chương trình học thì bà nhận được tin không thể bố trí công tác mới vì bà chưa đáp ứng được yêu cầu.

Uất ức, suy sụp, bà ốm mất một thời gian nhưng quyết tâm đứng dậy, nuôi gà, nuôi lợn, làm tất cả mọi việc để có thể nuôi con ăn học thành người.

Lần giở những tấm ảnh tư liệu, nữ dân quân du kích ngày xưa bây giờ đầu đã hai thứ tóc không khỏi ngậm ngùi: “Với thành tích bắn rơi máy bay năm 1968, mãi đến năm 1971 trung đội dân quân du kích làng Đỏ chúng tôi mới nhận được công nhận danh hiệu anh hùng. Cấp trên thông báo là tôi, đồng chí Trung đội trưởng Nguyễn Trung Huyên, xạ thủ 2 Nguyễn Trung Thành được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3. Nhưng mãi đến giờ tôi vẫn chưa được nhận Huân chương...”.

Khi Nhà nước có chính sách cho dân quân du kích trực tiếp chiến đấu, bà đi giám định thương tật. Với tỷ lệ thương tật 29% bà được cấp thẻ thương binh, được hưởng trợ cấp hàng tháng. Niềm vui ngắn chẳng tày gang, chưa được bao lâu thì chế độ trợ cấp thương binh hàng tháng của bà bị cắt không rõ lý do. Bà lại ôm đơn đi khắp nơi để kêu. Bao nhiêu lần được hứa hẹn sẽ xem xét, bà quay về nhà đợi nhưng mãi đến nay chẳng thấy động tĩnh gì.

“Vừa rồi các đồng chí bên Tỉnh đội, thành đội đến nhà tôi để thẩm tra. Họ hỏi tôi có bằng chứng gì để chứng minh là tôi đã trực tiếp máy bay không? Nghe họ nói thế nước mắt tôi trào ra. Tôi đang sống sờ sờ ra đây, tôi là bằng chứng chứ còn ai nữa. Không lẽ người ta nghĩ rằng tôi bịa ra mọi chuyện”, nói đến đây, đôi mắt bà đỏ ngầu, hai hàng nước mắt lặng lẽ chảy.

Rồi như cố nuốt nước mắt vào trong bà nói tiếp: “Những gì chúng tôi đã trải qua, có sự ghi nhận của đồng đội, đồng chí, của những người dân. Dù sao tôi vẫn tin tưởng những gì là sự thật thì vẫn là sự thật. Chỉ mong Nhà nước và các cấp đừng quên lãng chúng tôi”.

Chúng tôi, những thế hệ đi sau, những thế hệ được sống trong nền hòa bình đã phải đánh đổi bằng xương máu và tuổi xuân của thế hệ đi trước, cũng mong những người có trách nhiệm đừng quên lãng những người như cô dân quân làng Đỏ Nguyễn Thị Dần.

Nguyễn Duy - Quang Anh

Bình luận (0)