Đường ra mặt trận - Huy Du - Chính Hữu

"Chào những ngôi trường ngói đỏ bình yên.
Lấp lánh cánh đồng đang gặt đang hái.
Xuôi ngược công trường những bánh xe reo.
Ngọn khói con tàu như tay vẫy gọi".

Bài thơ "Đường ra mặt trận" (in trong tuyển thơ Chống Mỹ cứu nước 1965 - 1967) ra đời năm 1965. Đó là năm giặc Mỹ đánh phá miền Bắc rất ác liệt. Cả nước có chiến tranh. Miền Bắc lúc ấy vừa là hậu phương lớn của miềnNam tiền tuyến, lại vừa là tiền tuyến vì phải trực tiếp đánh Mỹ.

Đường ra mặt trận - (Huy Du) - Lam Sơn - Ngọc Tích - Hoài Thu (TCCT) - Tuyết Ngần - Hợp ca nam nữ Đoàn ca múa TCCT

    

Miền Bắc lúc ấy với khẩu hiệu "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", gian nan vô cùng. Mọi người đều gánh trên vai hai nhiệm vụ: sản xuất ra của cải để tự nuôi mình, để xây dựng CNXH và tiếp viện cho miền Nam cả người và của; lại phải đánh thắng giặc Mỹ. Đây là giai đoạn đất nước sôi động và hào hùng. Chính cái không khí hào hùng của đất nước đã tạo nên cảm hứng mãnh liệt để Chính Hữu viết "Đường ra mặt trận". Bài thơ ngắn gọn, ý tứ rõ ràng, lời lẽ tự nhiên như hiện thực cuộc sống sản xuất và chiến đấu lúc ấy. Đọc bài thơ ta có cảm giác Chính Hữu làm thơ rất dễ dàng. Câu thơ có chỗ như văn ký sự, có chỗ xen vào miêu tả chút ít nhưng không hoa mĩ, không cầu kỳ, không làm duyên làm dáng, cứ mộc mạc, chân chất, có sao nói vậy.

Bài thơ có tầm khái quát lớn. Tác giả xây dựng hình tượng "cả nước lên đường". Nói như Chế Lan Viên "Cả dân tộc không một ai là quân dự bị" thì hôm nay cả dân tộc ấy đang hành quân ra trận. Vì thế mà bài thơ là một bức tranh hoành tráng mang vẻ đẹp tươi tắn, rực rỡ, hào hùng, khoẻ khoắn đầy khí thế của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó cũng là khí thế của cả nước lên đường. Hai khổ thơ đầu có 10 câu tất cả nhưng không hề có vần mà chỉ có nhịp. Nhịp thơ lại ngắn. Có chỗ hai chữ. Có chỗ 4 chữ hết sức linh hoạt:

 

Ơ! Bộ đội dân quân trùng trùng điệp điệp
Chào nhau không kịp nhớ mặt nhớ tên
Dô hò nón vẫy hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát

Chính cái nhịp thơ ngắn mà lại liên tục làm cho người đọc không thể chậm hoặc dừng lại được, đã mô tả sự dồn dập vội vã của đoàn quân, gợi được không khí hối hả trên đường ra mặt trận. Không khí thơ cuồn cuộn cuốn hút người đọc. Ngôn ngữ thơ được chắt gạn đến cùng chỉ còn lại tinh chất. Đó là cái đúng, cái thật, cái mộc mạc của đời sống thời chiến qua những chi tiết rất đắt "Trống giục", "Xôi nắm cơm đùm", "Tiếng cười hăm hở" và nhất là "Chào nhau không kịp nhớ mặt".

Cả cái đội ngũ khổng lồ ấy ra trận từ một điểm xuất phát. Điểm ấy là miền Bắc XHCN đang sắp hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) với phong trào thi đua sôi nổi, những điển hình tiên tiến "Trống Bắc Lý" (ngành giáo dục); "Gió Đại Phong" (nông nghiệp), "Cờ Ba nhất" (quân đội), "Sóng Duyên Hải" (ngành công nghiệp) mà tác giả viết thành khổ thơ "Chào những ngôi trường ngói đỏ bình yên/ Lấp lánh cánh đồng đang gặt đang hái/ Xuôi ngược công trường những bánh xe reo/ Ngọn khói con tàu như tay vẫy gọi".

Không chỉ chủ nghĩa xã hội tiếp sức cho đội ngũ đang ra trận, mà cả lịch sử cách mạng "Hai mươi năm/ mưa, nắng, đêm, ngày/ Hành quân không mỏi (từ 1945 đến ngày bài thơ ra đời vừa tròn 20 năm) tiếp sức cho đội quân "Dài như tiếng hát" ấy ra trận. Với sức mạnh như vậy, đội quân của cả nước tất yếu sẽ chiến thắng. Đất nước sẽ thống nhất.

Ơ! Xóm dưới làng trên con trai con gái
Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau
Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội
Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu

Và quả nhiên 10 năm sau (1975) niềm tin ấy đã thành hiện thực. Đắm vào không khí hào hùng ấy, tác giả xúc động mãnh liệt phải bật lên một lời tâm huyết "Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội/ của những người đi, vô tận, hôm nay". Tác giả bị cuốn đi trong cảnh sôi động ấy nhưng tai vẫn nghe rõ 2 thứ âm thanh.

Một là "Yểm trợ miền Nam/ thình thình đại bác", Hai là "Nhịp những bước chân/ cả nước lên đường "đang rung chuyển cả núi rừng và nói như Tố Hữu là "Làm run sợ cả lầu năm góc". Gần nửa thế kỷ đi qua, nhưng từng câu, từng chữ vẫn giữ được vẻ đẹp và sự xúc động sâu sắc đối với người yêu thơ nói riêng và dân tộc ViệtNam nói chung.

Với Chính Hữu, viết về người lính ông luôn luôn ở vị trí người trong cuộc không chỉ vì ông cũng là anh vệ quốc quân, là người chiến sĩ mà hơn thế, tâm hồn ông đã luôn luôn thuộc về họ. Ông giãi bày niềm hạnh phúc thực sự của ông: Sung sướng bao nhiêu/ Tôi là đồng đội/ Của những người đi vô tận hôm nay…(Đường ra mặt trận). Và ước muốn “Cuộc đời anh, cho tôi chia một nửa/ Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm/ Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả/ Nửa bát cơm hạt muối nhọc nhằn”… (Một nửa).

Cũng có thể nói, Chính Hữu là một trong nhiều nhà thơ đã phác thảo một cách chân thực và đầy đủ chân dung anh bộ đội Cụ Hồ những năm chiến tranh bằng nghệ thuật xây dựng hình tượng.

Ơ! Đất nước mình đây bao nhiêu năm qua
Mưa nắng đêm ngày hành quân không mỏi
Sung sướng bao nhiêu tôi là đồng đội
Của những người đi đánh giặc hôm nay.

 Người đọc dễ dàng nhận thấy, trong thơ Chính Hữu luôn in đậm những hình ảnh của một đất nước ngày đêm đánh giặc, với khí thế mạnh mẽ và hào hùng của những cuộc hành quân không ngừng nghỉ. Mọi khung cảnh âm vang của thời đại đã được đón nhận và tái hiện với sức vang ngân rất sâu trong tâm khảm nhà thơ, để trở thành những hình ảnh và ấn tượng đậm nét, giàu sức gợi cảm và ý nghĩa biểu trưng

Bên cạnh đề tài viết về chiến tranh và người lính, ở giai đoạn sau này nhà thơ nghiêng nhiều về những hoài niệm. Tuy nhiên, sự hoài niệm, nỗi nhớ trong thơ Chính Hữu là sự chiêm nghiệm thâm trầm về cuộc đời. Bởi với ông, “quá khứ như tiếng gọi cuối rừng”, quê hương luôn “có tiếng thì thầm, của những chiếc lá, tiếp theo nhau, đang rụng về cội” và tình yêu “không nói ấy là đã nói”, “Khi yêu lặng câm ấy là yêu mãi” 

Có những ngày vui sao! Cả nước lên đường
Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục.

nhân vật trung tâm của thơ Chính Hữu là người lính, đó là những anh vệ quốc đoàn, những chiến sĩ Điện Biên, là người thương binh, là cả bản thân nhà thơ - chiến sĩ…Những “con trai, con gái” của “xóm dưới làng trên” hăm hở bước vào những cuộc chiến đấu gian khổ hy sinh của dân tộc.

…Nói về người chiến sĩ, viết về họ dù trong tư thế nào, hoàn cảnh nào, mục đích của Chính Hữu cũng là muốn xây dựng một hình tượng, trong đó tập trung không chỉ ở những nét ngoại hình mà còn là ở tâm trạng, nội tâm của họ. Anh chiến sĩ trong thơ Chính Hữu không chỉ có tư thế hiên ngang, không chỉ có hành động anh hùng, chịu thương chịu khó mà còn thật giàu tình cảm. Đó là tình cảm nhớ nhung tha thiết với quê hương.

Thơ gợi cảm hứng lớn, được chuyển hoá từ đường nét, tiết tấu, giọng điệu để trở thành đường nét, tiết tấu của âm nhạc có hiệu quả nhất, có sức sống lâu bền trong đời sống thơ ca và âm nhạc nước nhà. Bằng sự sáng tạo nghệ thuật, bằng quá trình hưng phấn và cảm xúc, nhạc sĩ đã hiện thực hoá thơ thành âm nhạc. Những bài thơ được phổ nhạc trở thành những ca khúc bất tử hào hùng của thời chống Mỹ, chiếm vị trí quan trọng, khích lệ, thôi thúc đồng bào, chiến sĩ trên mỗi chặng đường cách mạng và mãi mãi trường tồn cùng thời gian, cùng lịch sử.

( Những năm tháng không thể nào quên)

Bình luận (0)