Đoàn văn công Nhân dân Trung ương, thành lập ngày 16/11/1951 tại bến Canh Nông, tỉnh Tuyên Quang, tiền thân là Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, gồm các bộ phận chuyên môn: ca múa nhạc, kịch, chèo. Năm 1954, Tổ ca múa nhạc tách thành Đoàn ca vũ nhân dân Trung ương. Ngày 4/6/1957, Bác Hồ đổi tên là Đoàn ca múa Trung ương. Năm 1962, một bộ phận ca múa nhạc dân tộc phát triển lớn mạnh, hình thành Đoàn ca nhạc dân tộc Trung ương, bộ phận còn lại là Đoàn ca múa Trung ương. Năm 1964, Đoàn ca nhạc dân tộc, cùng Đoàn ca múa nhạc Trung ương nhập lại thành Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam. Sang năm 1971, trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập thống nhất đất nước, Nhà hát tách thành hai đoàn biểu diễn phục vụ: Đoàn ca múa Trung ương; Đoàn ca nhạc dân tộc Trung ương. Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1979, hai đoàn nghệ thuật ca múa nhạc nhập lại thành Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam. Năm 1986, Nhà hát tách Đoàn ca múa nhạc nhẹ thành Đoàn ca nhạc nhẹ Trung ương, có trụ sở hoạt động riêng, Đoàn ca múa nhạc dân tộc thành lập: Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam. Những ngày hoạt động nghệ thuật từ năm 1951 đến năm 1965, Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam xưa là Đoàn văn công nhân dân Trung ương, sau nhiều năm biến động liên tục về tổ chức, nhân sự, nhưng Nhà hát vẫn lớn mạnh, tổ chức hoạt động nghệ thuật phục vụ cách mạng, kháng chiến. Nhà hát là cái nôi nuôi dưỡng, đào tạo những nghệ sĩ tài năng của đất nước, sau này đạt nhiều giải thưởng lớn, nhiều danh hiệu cao quý do Nhà nước phong tặng (Các Văn nghệ sĩ tại Chiến khu Việt Bắc) Khởi nguồn từ làng quê Canh Nông ấy, những thế hệ nghệ sĩ đầu tiên đã được rèn luyện, trưởng thành để trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thần thánh của dân tộc, những tiết mục biểu diễn của Đoàn VCNDTW là món ăn tinh thần không thể thiếu, là ngọn gió tạo đà tung bay của những lá cờ chiến thắng huy hoàng. Những địa danh, những trận đánh như: Đông Khê, Thất Khê, Điện Biên Phủ mặt đất, rồi Điện Biên Phủ trên không, chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Plây-me, chiến dịch Mậu Thân, Thành cổ Quảng Trị, chiến dịch Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng... lừng lẫy không ở đâu, không trận nào thiếu những lời ca tiếng hát, điệu múa khích lệ tinh thần bộ đội. Cùng hành quân theo bước chân các chiến sĩ, các nghệ sĩ của Đoàn đã có mặt tại Điện Biên Phủ ngay trong những ngày đầu chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta. Sau đó, Đoàn trở về tham gia tiếp quản Thủ đô ngày 10-10-1954 bằng những chương trình nghệ thuật, với những bài ca cách mạng, những điệu múa đặc sắc, các nghệ sĩ đã toả đi khắp các địa điểm để phục vụ chiến sĩ, đồng bào Thủ đô và để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng. Với những tiết mục hợp xướng như “Đông Nam Á châu”, “ Người Hà Nội”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Quê tôi giải phóng”,… Cũng trong dịp tháng 10-1954, Đoàn đã vinh dự được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ đoàn đại biểu cấp cao Trung ương Đảng và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh chiêu đãi. Người đã tuyên dương những thành tích xuất sắc mà các nghệ sĩ của đoàn đã đóng góp từ khi thành lập, đặc biệt là đã góp phần vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, và chính thức đổi tên đoàn từ Đoàn văn công Nhân dân Trung ương thành Đoàn Ca múa nhân dân Trung ương với những lời dặn dò thật ân cần, trìu mến mà đầy trọng trách. Năm 1955, Đoàn được cử đi Vác-xa-va (Ba Lan) tham gia Festival Thanh niên sinh viên thế giới. Trong chương trình này, Đoàn đã mang về những tấm huy chương Vàng thế giới đầu tiên về nghệ thuật cho Việt Nam với các tiết mục múa “Cướp bông", “ Múa sạp”. Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các nghệ sĩ diễn viên của Đoàn vinh dự nhận nhiệm vụ quan trọng: Lên đường để phục vụ đồng bào và chiến sĩ tuyến lửa như: K. C. B, Quảng Bình, Vĩnh Linh, bên dòng sông Bến Hải. Đoàn đã tổ chức bí mật hành quân cả ngày và đêm, với các phương tiện thô sơ như xe đạp, xe thồ để chở các phương tiện kỹ thuật, bảo đảm tính cơ động dã chiến. Đến đâu cần là tất cả các nghệ sĩ cùng hoà mình, khẩn trương triển khai sân khấu phục vụ chiến sĩ các đơn vị trên đường hành quân ra mặt trận. Mặc cho bom rơi, đạn nổ, những tiếng hát vẫn át tiếng bom, những điệu múa, tiếng đàn vẫn tung cánh bay lên trải dài theo những bước chân của quân đội ta trên khắp chiến trường. Văn hoá nghệ thuật là vậy, những tiếng hát, điệu múa của các nghệ sĩ đã tiếp sức mạnh tinh thần cho chiến sĩ và rồi chính chiến trường, mặt trận và lòng quyết tâm của chiến sĩ lại trang bị thêm tinh thần, và dường như đã làm cho tâm hồn của các nghệ sĩ được phong phú hơn, mãnh liệt hơn qua những câu thơ dung dị, mộc mạc do các chiến sĩ đã tặng Đoàn “Ngày mai bắn máy bay rơi... Chiến công một nửa của người hát hay...”. Đặc biệt, phải kể đến những chương trình biểu diễn của Đoàn được thực hiện nhiều lần tại bờ Bắc dòng sông Bến Hải. Các nghệ sĩ đã không quản gian khó, bằng hệ thống loa phóng thanh đơn sơ chĩa sang bờ Nam cất lên những tiếng hát quê hương cách mạng làm lay động tình cảm ngay cả những tên lính nguỵ đang canh gác bên kia đầu cầu Hiền Lương đã đồng loạt hạ vũ khí để vỗ tay sau mỗi bài hát. Đó là những hình ảnh không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của các nghệ sĩ và những chiến sĩ đã chứng kiến sức mạnh của nghệ thuật cách mạng với các bài hát: “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, “Quay về đi hỡi anh lính cộng hoà”, “Sóng Cửa Tùng”… Những bài hát góp phần thổi bùng lên sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam như “Tiểu đoàn 307”, “Tầm vu”… Những ca khúc đã dấy lên lòng yêu nước, động viên thanh niên nhập ngũ như “Chiếc gậy Trường Sơn”, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”… qua các giọng ca, mà đến bây giờ vẫn còn lay động người nghe như: NSND Quốc Hương, NSND Trần Hiếu, NSND Thanh Huyền, NSƯT Thanh Đính, NSƯT Kiều Hưng, NSƯT Thanh Hoà, NSƯT Vũ Dậu, NSƯT Đinh Thìn… Trên những mặt trận chiến tranh ác liệt đi sâu vào vùng địch hậu, mỗi nghệ sĩ là một chiến sĩ, luôn sẵn sàng chấp nhận những hy sinh gian khổ, song lại coi đó là những vinh dự to lớn khi được đóng góp từng giọt mồ hôi của mình vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Là một ngh