Dáng đứng Việt Nam -Nguyễn Chí Vũ -Lê Anh Xuân

Tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh tại thị xã Bến Tre, trong một gia đình trí thức yêu nước, là con trai thứ của một nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Ca Văn Thỉnh. Năm 12 tuổi, vừa học vừa tập việc trong chiến khu, ở nhà in Trịnh Đình Trọng (thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ).

Năm 1954, Ca Lê Hiến tập kết ra miền Bắc cùng gia đình, học hết bậc phổ thông ở Trường học sinh miền Nam (Hải Phòng) và Trường Nguyễn Trãi (Hà Nội). Ở bậc đại học, Ca Lê Hiến học tập tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (khóa 3, năm 1959- 1963). Tốt nghiệp đại học, Ca Lê Hiến được nhà trường giữ lại làm giảng viên, sau đó trong kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực lâu dài cho ngành Giáo dục đại học, anh được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài.

Cuối năm 1964, khi ngọn lửa chiến tranh đã lan rộng khắp cả nước, Ca Lê Hiến, giống như nhiều thanh niên thời đó đã "xếp bút nghiên theo việc binh đao". Ca Lê Hiến được thỏa lòng ước mong, trở lại quê hương, trở về chiến trường miền Nam, công tác ở Tiểu ban Giáo dục, sau chuyển công tác về Hội Văn nghệ Giải phóng

Trong gần bốn năm ở chiến trường, ta vẫn gọi là ở tiền tuyến, Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân đã thực sự sống, chiến đấu và viết văn với tư cách một chiến sĩ thực thụ, một nghệ sĩ chân chính. Tình yêu nhân dân và lý tưởng cách mạng, sự gắn bó với quê hương bằng những tình cảm lớn, chân thành và mãnh liệt vốn đã có gốc rễ sâu xa từ thuở thiếu thời, nay trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc.

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Lê Anh Xuân là tình yêu quê hương đất nước, yêu nhân dân bao đời cần lao mà anh dũng. Hơn ai hết nhà thơ hiểu tận ngọn nguồn về nhân dân của mình như cách diễn đạt tài tình của nhà thơ Hungari Sanđo Pêtôphi "Cày một tay/ gươm một tay/ Đời nhân dân muôn nỗi đắng cay/ Máu cứ đổ mồ hôi cứ đổ". Một nghệ sĩ lớn, bao giờ cũng trước hết và sau hết thuộc về nhân dân của mình.

Vẫn đứng đàng hoàng, nổ súng tiến công

Sự nghiệp văn học của Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân không có cái đồ sộ của khối lượng tác phẩm, không có cái "bắt mắt" như bây giờ trong cơ chế thị trường và tính chất thương mại nên văn học cũng được coi là một thứ hàng hóa. Tác phẩm của thi nhân tinh khiết, trinh nguyên xuyên suốt thời gian.

Đó là nghệ thuật vô tư, không vụ lợi; đó là thơ ca cất lên từ trái tim thổn thức, đập cùng nhịp với nhịp đập của trái tim nhân quần (như cách diễn tả của thi sĩ Xuân Diệu "Tôi cùng xương cùng thịt với nhân dân/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi nước mắt"). Sáng tác của Lê Anh Xuân vỏn vẹn chỉ có: Tiếng gà gáy (thơ, 1965), Có đâu như ở miền Nam (Thơ, in chung, 1968), Nguyễn Văn Trỗi (Trường ca, 1968), Hoa dừa (Thơ, 1971), Thơ Lê Anh Xuân (Tuyển thơ, 1981), Giữ đất (Văn xuôi, 1968).

Những giải thưởng văn học cũng không phải là nhiều so với một tài năng thơ ca đặc biệt như Lê Anh Xuân: Giải nhì cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ năm 1961 với bút danh Ca Lê Hiến (bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương); Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân

Thơ Lê Anh Xuân, nếu có thể ví von, như loài hoa dừa vốn đặc trưng cho xứ sở miền Nam quê hương thân yêu của nhà thơ. Nếu sự ví von này là có thể chấp nhận được, nghĩa là đúng, thì kính mời quý vị đọc lại tập thơ Hoa dừa của Lê Anh Xuân, tập thơ theo chúng tôi nghĩ, là kết tinh đời thơ tuy ngắn ngủi nhưng rực cháy, phát sáng và phát lộ tài năng văn chương của Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân. Tài năng và nhân cách, hay nói cách khác cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ trong con người Lê Anh Xuân là không tách rời, như hai mặt của một tờ giấy.

Tôi muốn nói đến "Dáng đứng Việt Nam" – tên một bài thơ và cũng là một biểu tượng lớn và đẹp trong thơ Lê Anh Xuân. Dáng đứng Việt Nam, có thể nói trong thơ Lê Anh Xuân bắt đầu từ dáng đứng của người mẹ trong bài thơ Bông trang đỏ. Trong bài thơ giàu chất tự sự này, hình ảnh bà mẹ miền Nam với nỗi đau khôn nguôi (trong vòng 10 năm mẹ mất hai người thân yêu nhất – chồng và con trai bị giặc thù sát hại).

Trên chặng đường chiến đấu bằng ngòi bút, Lê Anh Xuân dường như dành rất nhiều tình cảm cho người lính giải phóng quân qua những bài thơ: Chào các anh những người chiến thắng, Ánh đuốc, Anh đứng giữa Tháp Mười, và ấn tượng nhất là bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” – bài thơ cuối cùng Lê Anh Xuân viết trước lúc hi sinh. Tại sao nhà thơ lại chú tâm đến dáng đứng của con người Việt Nam trong thời đại cách mạng và chiến tranh? Trong thời đại cách mạng và chiến tranh, trái lại vấn đề dáng đứng lại mới trở nên quan trọng và có ý nghĩa.

Trong bài thơ Chào các anh những người chiến thắng, Lê Anh Xuân đã phác họa dáng đứng của người chiến sĩ giải phóng quân "Nay các anh đứng lên như Phù Đổng/ Đạp trên đầu thù bay tới tương lai". Cả bài thơ và những câu thơ như thế, dù sao vẫn là một sự khái quát nghệ thuật cao độ về nhân vật người anh hùng thời đại..

"Tên Anh đã thành tên đất nước

Nếu là một họa sĩ, tôi nghĩ, Lê Anh Xuân sẽ chọn gam màu vàng, màu đỏ và màu xanh để hoàn thành tác phẩm hội họa của mình; nhưng riêng màu xanh sẽ gây được ấn tượng nhiều nhất đối với người xem vì đó là màu của bộ quân phục giải phóng. Lê Anh Xuân là một nhà thơ có phẩm tính một họa sĩ nên đã kiến tạo cho thơ của mình có cái đặc sắc của "thi trung hữu họa".

Hãy xem nhà thơ "vẽ" chân dung người chiến sĩ giải phóng "Anh ngã xuống đường băng Tân-Sơn-Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đương đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng".

Như đã nói ở trên, chính cái tư thế hy sinh của người chiến sĩ đã khiến quân thù khiếp sợ, đến mức dù anh đã hi sinh nhưng quân thù vẫn tưởng anh còn sống đó, đang nhìn thẳng kẻ thù và sẵn sàng nhả đạn "Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng/ Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn/ Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng, nổ súng tiến công". Đó là người anh hùng vô danh. Lịch sử xưa nay vẫn chủ yếu được viết nên bởi những anh hùng vô danh.

Hẳn chúng ta đều biết, ở thành phố Điện Biên Phủ bây giờ, trong những nghĩa trang liệt sĩ có đến 9/10 ngôi mộ là của những chiến sĩ vô danh. Và ở khắp các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước, tình hình cũng tương tự. Người chiến sĩ giải phóng trong bài thơ của Lê Anh Xuân cũng là người vô danh của lịch sử "Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại cái-dáng-đứng Việt-Nam tạc vào thế kỉ/ Anh là chiến sĩ Giải phóng quân".

Có những khoảnh khắc đặc biệt, tại đó những cá nhân "khổng lồ" về tầm vóc trí tuệ hoặc tầm vóc đạo đức, tầm vóc tài năng sẽ gặp gỡ với lịch sử. Điều này nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi (ca ngợi Anh hùng – liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi) "Có những phút làm nên lịch sử/ Có cái chết hóa thành bất tử/…".

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

Với Lê Anh Xuân, người chiến sĩ giải phóng đồng nghĩa với lịch sử, với nhân dân, với chân lí thời đại "không có gì quý hơn độc lập tự do". Những câu thơ kết bài thơ Dáng đứng Việt Nam là một sự đúc kết, cao hơn là tổng kết: "Tên Anh đã thành tên đất nước/ Ơi anh giải phóng quân!/ Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân-Sơn-Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân". Đây là bút pháp của huyền thoại khiến cho hình tượng thơ trở nên vượt quá kích cỡ bình thường, trở thành cái trác tuyệt vốn được xem như một phạm trù mỹ học cơ bản của nghệ thuật thời đại có những biến thiên lịch sử trọng đại.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vừa ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 2 cá nhân và 11 đơn vị đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trong đó có liệt sĩ: Ca Lê Hiến (nhà thơ Lê Anh Xuân);

***

Trích Bài: Bùi Việt Thắng (CAND.COM)

Bình luận (0)