PHAN ĐÔNG VIÊN Hàng năm cứ vào tiết thu phân trở đi, khi những làn gió heo may đã chớm thổi về, như một lẽ tự nhiên, lòng người lại xáo trộn những nỗi nhớ nhung nuối tiếc, khắc khoải, bồn chồn, bâng khuâng, day dứt... Ai đã qua thời tiểu học - nhất là các học sinh nông thôn - chắc chắn còn nhớ: tâm hồn ngây thơ trong trẻo của mình đã biết mùa thu có nước ao thu lạnh, có lá vàng thu rơi, qua phong cảnh thanh bình thân thuộc của quê hương mình từ bài học thuộc lòng Mùa thu câu cá của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo./. Rồi cứ thế học lên các lớp trên, luôn được tiếp xúc làm quen, tìm hiểu, học hỏi, chiêm ngưỡng những tác phẩm văn chương nghệ thuật nổi tiếng về mùa thu, không những của các tác giả Việt Nam mà còn của nước ngoài - nhất là trong lĩnh vực thơ và nhạc - chúng ta càng cảm nhận sâu sắc và yêu mùa thu hơn. Bà Tương Phố là một thi sĩ, nhà văn thuộc thế hệ văn chương Việt Nam đầu thế kỷ 20 trong phong trào Nữ lưu và Văn học (1913 - 1932), bà đã có một số tác phẩm được đánh giá cao. Năm 1928 khi chồng mới mất, bà đã viết một bài tản văn khóc chồng Giọt lệ thu , bài tản văn này gồm cả văn và thơ là tác phẩm văn chương nổi tiếng xúc động nhất thời bấy giờ, đã được đăng trong Tạp chí Nam Phong, xin trích mấy khổ thơ: Trời thu ảm đạm một màu Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em Trăng thu bóng ngả bên thềm Tình thu ai để duyên em bẽ bàng... Thu có hạn, sầu dài không hạn Cảm thu sang nhớ bạn lứa đôi Đoạn trường biết mấy tao nôi Khóc rồi lại khóc, hờn thôi lại hờn... Sầu thu nặng, lệ thu đầy Vi lau san sát hơi may lạnh lùng Ngổn ngang trăm mối bên lòng Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm... Năm 1930, nữ thi sĩ Pháp Jeanne Duclos - Salesses đã dịch bài tản văn Giọt lệ thu sang tiếng Pháp đăng trên báo Le Moniteur d' Indochine, sau đó được Nhà danh cầm - nhạc sĩ Pháp De Gironcourt phổ thành bản nhạc Khúc ca trên mộ . Khi sang Việt Nam năm 1940, nhạc sĩ Pháp đã tìm đến nhà riêng bà Tương Phố ở Phúc Yên để tặng bà bản nhạc. Bà Tương Phố đã cho nhà xuất bản Ngày Mai - Hà Nội xuất bản tác phẩm âm nhạc này. Đến 1967 được NXB Nam Chi - Sài Gòn tái xuất bản. Nếu không có tư liệu nào sớm hơn thì Giọt lệ thu có lẽ là tác phẩm thơ Việt Nam đầu tiên được nhạc sĩ nước ngoài phổ nhạc. Guillaume Apollinaire (1880 - 1918) người Pháp gốc Ba Lan là nhà thơ kiệt xuất của Pháp đầu thế kỷ 20, ông còn là một thủ lĩnh của chủ nghĩa siêu thực trong văn chương nghệ thuật. Vừa là nhà thơ, nhà văn, nhà biên kịch và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, Ông đã viết bài thơ L'Adieu (Lời vĩnh biệt) than thở cho một mối tình tan vỡ giữa mùa thu - mối tình của ông với cô gia sư người Anh Annie Playden. Thi sĩ Bùi Giáng đã dịch sang tiếng Việt: Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa Mộng trùng lai không có ở trên đời Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi Và nhớ nhé ! ta đợi chờ em đó ! Trong nguyên bản tiếng Pháp của bài thơ có câu: L'automne est morte ( Mùa thu chết ) nên khi phổ nhạc cho bài thơ này, NS. Phạm Duy đã đặt đầu đề là Mùa thu chết. Linh mục Ý Antonio Lucio Vivaldi (1678 - 1741) là danh cầm Violon - nhà soạn nhạc vĩ đại thời Baroque, ông đã viết 40 vở Opéra, nhiều bản hợp xướng, đặc biệt có những bản Concerto cho violon Dàn nhạc giao hưởng, trong đó có bản Tổ khúc bốn mùa nổi tiếng thế giới, mà cho đến nay đa số người nghe ở bắc bán cầu đều cho rằng nếu nghe vào mùa thu cả 4 chương bản tổ khúc này thì chương Mùa thu là hay nhất. Như chúng ta đã biết mặt trời là một định tinh, luôn đứng im, một năm trái đất quay ngược chiều kim đồng hồ quanh mặt trời 1 quỹ đạo khép kín dài 150 triệu km, mặt phẳng của đường quỹ đạo đó gọi là mặt phẳng hoàng đạo. Khi trái đất quay, trục trái đất nghiêng với mặt phẳng hoàng đạo, bởi vậy ở mỗi thời điểm khác nhau, các vùng trái đất ở cả nam, bắc bán cầu nhận được tia sáng mặt trời với góc khác nhau và lượng bức xạ khác nhau tạo nên những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu để hình thành các mùa, một số nhà khoa học tâm lý cho rằng điều đó không chỉ ảnh hưởng đến những vấn đề khoa học kỹ thuật của thiên văn, địa lý mà còn ảnh hưởng đến sự biến đổi tần số của trái tim và vỏ não của con người, khiến sự cảm nhận, sự rung động, sự biến đổi tâm lý của con người ở một thời điểm nào đó tại một vùng miền nào đó trên trái đất có thể có sự tương đồng. Điều đó lý giải rằng: tại sao các nhà thơ, nhạc sĩ như những cặp Tương Phố + Jeanne Duclos - Salesses + De Gironcourt, cặp Guillaume Apollinaire+ Bùi Giáng + Phạm Duy tuy không quen biết nhau nhưng những cảm xúc của họ về mùa thu sao lại giống nhau đến thế ! chính những cảm xúc giống nhau đó đã dẫn họ đến với nhau, hoặc công chúng cùng thích chương Mùa thu trong tổ khúc bốn mùa của Vivaldi ? vì trong thời điểm mùa thu tất cả họ dù là Việt Nam, Pháp, Ý cũng đều là người bắc bán cầu. Việt Nam trong thời phong trào nhạc mới và thơ mới (từ 1930 - 1945) đã có tới hàng chục bài thơ và ca khúc lãng mạn trữ tình viết về mùa thu của các thi sĩ nhạc sĩ tiền bối và thế hệ tiếp theo, nhiều ca khúc đến nay vẫn còn đi cùng năm tháng như các bài: - 2 bài: Buồn tàn thu, Thu cô liêu của Văn Cao. - 3 bài: Đêm thu, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. - Tiếng chuông chiều thu của Tô Vũ. - Đêm thu nhớ bạn của Nguyễn Văn Thương. - 2 bài: Hương thu, Ước hẹn chiều thu của Dương Thiệu Tước. - 2 bài: Chiều thu , Trăng thu của Nguyễn Văn Khánh. - Nhạc thu của Thẩm Oánh. - Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư) của Lê Thương, Phạm Duy, Văn Ký, Đoàn Phi. - 2 bài: Nước mắt mùa thu, Mùa thu chết của Phạm Duy. - 2 bài: Thu qua, Ngàn thu áo tím của Hoàng Trọng. - Tiếc thu của Hoàng Dương. - 2 bài: Ánh trăng mùa thu, Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn. - Thu tàn của Vũ Nhân + Đặng Văn An. - Thu vàng của Cung Tiến. ... Ngày 30/10/1937 trên số 179 Tạp chí Tiểu thuyết thứ bẩy