“Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Trong khái niệm của loại hình di sản này có hai khía cạnh đáng chú ý: Một là, văn hóa cồng chiêng là một “tổ hợp văn hóa”, trong đó cồng chiêng với tư cách là một nhạc cụ giữ vai trò trụ cột và tích hợp vào nó nhiều hiện tượng văn hóa khác như tính biểu tượng, phong tục, tín ngưỡng, quan hệ trao đổi, liên kết cộng đồng…, tạo nên một tổng thể “văn hóa cồng chiêng”. Hai là, cồng chiêng Tây Nguyên phân bố không chỉ ở 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng mà còn các vùng phụ cận khác thuộc Trường Sơn - Tây Nguyên. Ở đó, từ xưa tới nay, hơn hai mươi dân tộc bản địa đã sử dụng cồng chiêng với nhiều nét tương đồng trải dài từ Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam. Nói đến không gian văn hóa người H’rê và các dân tộc thiểu số ở Bình Định cũng là nói đến văn hóa rượu cần và cồng chiêng. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và các dân tộc thiểu số ở Bình Định nói riêng coi rượu cần và cồng chiêng là những vật phẩm quan trọng và thậm chí rất thiêng liêng trong đời sống xã hội. Rượu cần và cồng chiêng là những thành tố cơ bản để tạo thành lễ hội, mà lễ hội dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số cũng rất phong phú và đa dạng. Với người H’rê từ lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh cho đến lễ cưới, dựng nhà, hội làng, ở thời điểm nào cũng không thể thiếu hơi men nồng nàn và âm vang giai điệu cồng chiêng. Người H’rê ở Bình Định gọi chiêng là chinh và thường dùng những bộ chiêng ba, chiêng năm. Qua bài viết này, xin giới thiệu đôi nét về chiêng ba của người H’rê. Từ lâu đời, cồng chiêng là một thành phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng người H’rê. Những gia đình có cồng chiêng họ xem vật dụng này như là thành viên trong gia đình, được lưu giữ nơi trang trọng nhất (phía trong đầu nhà sàn). Hàng năm, vào ngày Tết âm lịch, cũng như khi bán đi hoặc mua về họ đều cúng chiêng (Potq ca Chinh). Và trong các dịp cúng tế, lễ hội, đám cưới… họ không quên những lời cầu mong các thần linh phù hộ, che chở cho cồng chiêng trong gia đình. Thời xưa, người H’rê mua bán, trao đổi hàng hóa với nhau bằng cồng chiêng nhiều hơn là bằng vàng, bạc. Có bộ cồng chiêng quý (chiêng cũ, bộ chiêng có âm thanh chuẩn) có thể đổi đến 4 con trâu cày, 2 đám ruộng nước… Những gia đình giàu có, trong nhà có khi sở hữu đến 5 bộ. Gia đình bình thường thì cũng có 1 bộ. Phổ biến nhất là loại chiêng bộ ba chiếc. Chiếc lớn nhất gọi là Vông, chiếc giữa gọi là H’tum, chiếc nhỏ nhất gọi là Tucq. Chiếc Tucq được khoét hai lỗ ở vành để xỏ dây móc treo chiếc chiêng vừa tầm tay người ngồi đánh. Đôi khi người H’rê dùng trống (Vad hao) để đệm cho một số bài diễn tấu của bộ chiêng ba. Trước đây, đánh chiêng ba chủ yếu là nam giới, còn các cô thiếu nữ nếu thích đánh chiêng thì chỉ đánh chiếc Vông nhưng ngày nay rất nhiều thiếu nữ đánh bộ chiêng ba (cả chiếc H’tum và Tucq). Đánh chiêng bộ ba thường là ngồi đánh ở hai đầu hồi nhà sàn, không di chuyển, tư thế ngồi xếp bằng đôi chân hoặc chân nằm chân kê để đánh chiêng. Con trai lên 14 tuổi bắt đầu tập đánh chiêng. Đánh bằng bàn tay nắm lại hoặc quấn chiếc khăn, đánh vào phía ngoài lưng chiêng. Nghệ nhân đánh chiếc Vông có tư thế ngồi kín đáo, thường đưa hai chân qua bên trái nếu là thuận tay phải, tay trái nắm giữ vành chiêng, tay phải nắm lại, đánh trên lưng chiêng và xòe bàn tay úp trên lưng chiêng theo nhịp. Khi tay phải đánh, các ngón tay trái cũng phải hở ra một tí rồi chặn lại để cho chiêng có độ ngân theo nhịp. Nghệ nhân đánh chiếc H’tum có tư thế ngồi thoải mái, gác chéo hai chân, úp chiêng trên đùi, tay trái gác trên lưng chiêng nếu là thuận tay phải, bàn tay giữ vành chiêng, bàn tay phải nắm lại, đánh xuống lưng chiêng. Tay phải đánh, tay trái giơ lên khoảng 2 - 4 cm rồi chặn lại để ngắt tiếng theo nhịp. Nghệ nhân đánh chiếc Tucq có tư thế thoải mái nhất, có thể ngồi như đang bắn nỏ hoặc quỳ hai gối, hoặc ngồi đưa hai chân qua bên trái nếu là thuận tay phải, sao cho chiếc chiêng được treo lơ lửng vừa tầm tay nghệ nhân. Nhìn chung, nghệ nhân đánh chiếc Tucq được di chuyển, chọn tư thế ngồi thoải mái nhất để biểu diễn. Tay trái nắm dây đai trên vành chiêng, bàn tay phải đã được quấn chiếc khăn, dùng mu bàn tay đánh ngang (lắc) trên lưng chiêng theo nhịp. Chiếc Vông có âm tòa tòa, H’tum thì tác tác và chiếc Tucq là tu tu. Bộ chiêng ba của người H’rê có âm ngân vang rất xa. Khi đánh ở làng bên này làng bên kia có thể nghe. Các nghệ nhân nói rằng bộ chiêng ba có 4 điệu cơ bản: Tucq Dhêcq, Tucq Dhah’lay, Tucq Tru wôcq và Tucq Ca oa. Chiếc Vông là để phân nhịp; H’tum là chủ công nhịp, là dẫn nhịp, quyết định tiết tấu nhanh hay chậm; chiếc Tucq chủ công tạo ra giai điệu, đóng vai trò rất quan trọng cho việc tạo ra các làn điệu. Chiếc Tucq không những tạo ra giai điệu mà còn tạo sắc thái, điệu thức và nó có quyền quyết định kết thúc một bài diễn tấu. Vì vậy nghệ thuật cồng chiêng người H’rê còn được gọi là Túc Chinh (Túc là chiếc chiêng Tucq, là đánh chiêng; Chinh là chiêng của người H’rê). Còn hai chiếc: Vông và H’tum chỉ mang tính đệm cho nghệ nhân đánh Tucq. Nghệ nhân đánh chiếc Tucq là người đã trải qua quá trình tập luyện lâu dài, đạt trình độ biểu diễn cao, thể hiện phong cách, lối chơi phong phú; biết phân câu, phân đoạn, tạo câu phiu hợp lý, đúng lúc thì mới tạo nên bản nhạc hấp dẫn, gây ấn tượng người nghe. Một bài diễn tấu dài hay ngắn, hấp dẫn người nghe hay không hoàn toàn tùy thuộc vào sự tùy hứng ứng tác và khả năng biểu diễn âm nhạc của nghệ nhân đánh chiếc Tucq. Tuy vậy, trong quá trình biểu diễn một làn điệu nào đó thì chiếc Vông và H’tum làm vai trò quan trọng trong tổng thể sản phẩm âm nhạc là giữ nhịp. Nghệ nhân đánh chiếc Tucq được quyền nghỉ giữa các đoạn nhạc, để di chuyển tư thế ngồi, chỉnh sửa lại trang phục mà cụ thể là sửa lại khăn quấn đầu; còn người đánh chiếc Vông và H’tum thì không được nghỉ giữa bài, mà đệm, giữ vững nhịp cho đến lúc kết thúc bản nhạc. Bất cứ điệu nào t