KỲ I: Người Mèo, xã hội Mèo và Vua Mèo Từ giữa thế kỷ 18, vùng cao nguyên Đồng Văn (thuộc tỉnh Hà Giang) đã trở thành địa bàn cư trú của dân tộc Mèo (dân tộc Mông ngày nay) với nhiều dòng họ và những phong tục tập quán mang tính đặc thù. Có một người từng được gọi là Vua Mèo sinh ra, lớn lên và hoạt động gắn bó với vùng đất này. Cuộc đời và sự nghiệp của ông, cũng như sự kế thừa của các thế hệ kế tiếp sau đó, từng là những nhân vật và những sự kiện được rất nhiều thế lực quan tâm. Song con đường mà ông đã chọn, và cũng là con đường mà cộng đồng người Mèo đã chọn, chính là con đường đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đi theo cách mạng, góp phần vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Điều đầu tiên khẳng định rằng người Mèo không sống trong xã hội phong kiến tập quyền, nên khái niệm Vua Mèo ở đây hoàn toàn không giống với khái niệm vua như ở các dân tộc khác. Chỉ có một người duy nhất từng được gọi là Vua Mèo. Ông sinh ngày 12/8/1865 tại làng Tra Pò (làng Gấu), xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn. Nhưng trước khi nói đến Vua Mèo, xin hãy lướt qua một chút về người Mèo và xã hội Mèo thời bấy giờ... Người Mèo - xã hội Mèo Vào thời gian ấy, người Mèo ở Đồng Văn có chừng 7 vạn người, bao gồm các họ lớn như họ Vàng, họ Dương, họ Mã, họ Đào... Mỗi họ đều có những người cầm quyền riêng. Trong một họ lại chia ra từng dòng khác nhau. Người ta nhận ra họ, ra dòng thông qua một số tập tục riêng của các họ, các dòng đó. Đây cũng là cách để phân biệt vị trí xã hội của mỗi người. Họ Vàng có các dòng như: dòng cúng tổ tiên 33 bát (mâm cỗ cúng phải có 33 bát); dòng cúng tổ tiên 13 bát; dòng làm ma cho người chết bằng chòi cỏ gianh để che quan tài; dòng làm chòi bằng cành cây... Họ Mã thì mộ chôn người chết phải nằm ngang, ngược lại họ Đào và một số họ khác phải chôn dọc. Cũng là họ Dương, nhưng họ Dương thật thì kiêng ăn tim của các loài vật, còn họ Dương giả lại kiêng lá lách; lại có họ Vàng gọi là Vàng ăn nhạt, nghĩa là trong tất cả các dịp cúng tế, những người thuộc họ đó không được phép ăn mặn... Tất cả những điều ấy khiến cho người Mèo vừa gắn bó, mà cũng vừa cách biệt với nhau, làm nên sự đa dạng trong xã hội. Chỉ có những người cầm quyền của các dòng họ là có quyền đối với dòng họ của mình. Cái quyền đó nhiều khi lớn đến mức có thể điều một bộ phận trong dòng, trong họ của mình, bao gồm cả người và tài sản từ nơi này đến nơi khác để cân bằng cuộc sống, đây cũng là cách giúp đỡ nhau để bảo đảm cuộc sống chung trong mỗi dòng họ của người Mèo. Từ những người cầm quyền này hình thành ra một bộ tham mưu của người Mèo và rồi từ đó tùy theo yêu cầu mà chọn ra một vị chỉ huy tối cao. Như vậy trong xã hội người Mèo không hề có chuyện tự xưng vương hay tấn phong như ở các xã hội khác. Người được lựa chọn phải là người được sự nhất trí của cả cộng đồng. Về phía người cầm quyền cũng có 2 loại: người cầm quyền người, là người lo lắng về chuyện đời thường, ăn ở, chiến đấu, đối nội, đối ngoại của dòng họ; và người cầm quyền ma khách phụ trách về nội quy, ký hiệu và các lễ nghi trong dòng họ. Vai trò của những người cầm quyền này tuy không giống nhau nhưng có cùng một đặc điểm chung là bảo đảm cho sự thống nhất và bền vững của toàn bộ cộng đồng Mèo. Từ đặc điểm của xã hội khép kín như vậy, có thể nhận thấy một điều rằng ở người Mèo luôn luôn tồn tại ý thức củng cố nội bộ và tinh thần bài ngoại mạnh mẽ. Chính điều này càng làm tăng vai trò của người cầm quyền trong đời sống vật chất và tinh thần của người Mèo... Trai thời loạn và con đường trở thành thủ lĩnh Sinh ra trong một gia đình nghèo thuộc chi thứ 6 (chi út) của họ Vàng, dòng 33 bát. Bố mất sớm, hai anh em Vàng Trá Pò, Vàng Dúng Lùng được mẹ nuôi nấng trong sự vất vả, lam lũ hơn rất nhiều so với cuộc sống nói chung của người Mèo - Đồng Văn thuở ấy. Nhưng khác hẳn với người anh Vàng Trá Pò vốn hiền lành và có phần nhút nhát, ngay từ nhỏ, sự náo nhiệt của các lễ hội vùng Mèo và tiếng khèn (crềnh) réo rắt mang đậm âm hưởng và hào khí cuộc sống, chiến đấu của người Mèo từ thuở khai thiên lập địa đã có một sức hấp dẫn đến kỳ lạ với cậu bé Vàng Dúng Lùng. Lớn lên một chút, bếp lửa và những chõ ngô đồ trong ngôi nhà tồi tàn nơi bản Tra Pò không còn đủ sức giữ chân cậu nữa. Trở thành một người lang thang, cùng với chiếc khèn bất ly thân, Vàng Dúng Lùng có mặt khắp các lễ hội, ma chay, cưới xin của người Mèo trong vùng. Dừng đâu là nhà, ngủ đâu là giường. Quần áo rách thì lấy dây rừng buộc lại, chỉ tới khi nào dây rừng không buộc nổi nữa mới chịu quay về nhà để mẹ vá. Vá xong lại đi. Cuộc sống nay đây mai đó cùng với những điều thu lượm được trên đường đã khiến cậu trở thành một người sớm có cách nhìn kỹ lưỡng về cuộc sống của người Mèo. Tất cả những điều ấy đều được gửi gắm vào tiếng khèn. Chẳng bao lâu, Vàng Dúng Lùng trở thành một người thổi khèn nổi tiếng tại vùng Mèo, Đồng Văn. Thời kỳ này cũng là thời kỳ Pháp bắt đầu chiếm Đông Dương. Tướng Lưu Vĩnh Phúc, chỉ huy quân Cờ Đen từ Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống Pháp. Sau đó, quân Cờ Đen rút quân về nước, chỉ có 3 nhóm ở lại gồm nhóm của Lương Tam Kỳ đóng ở Bắc Kạn, nhóm của Hoàng Sùng Anh đóng ở Lào Cai - Yên Bái và nhóm của Hà Quốc Trường đóng ở Hà Giang. Khắp cả vùng Mèo từ Đồng Văn (Việt Nam) đến vùng Phân Mao, Cỏ Rẽ (nay là vùng Tây Thọ, Châu tự trị Mèo Vân Sơn, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc) trở thành căn cứ của đội quân này. Trong bối cảnh lúc đó, ở Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu mở rộng cuộc chiến tranh lên vùng biên giới phía Bắc; ở Trung Quốc triều đình nhà Thanh đang ráo riết tìm mọi cách tiêu diệt quân Cờ Đen; một thủ lĩnh người Mèo tên là Vừ Phán Lùng đã đứng lên tập hợp lực lượng để chống quân Thanh, một mặt chống Pháp. Đại bản doanh của Vừ Phán Lùng đặt tại Lũng Cảm, xã Sủng Vài, Đồng Văn. Sau một thời gian, do lực lượng mỏng, Vừ Phán Lùng tìm cách liên kết với Hà Quốc Trường, thủ lĩnh của quân Cờ Đen đang đóng tại Đồng Văn, để cùng chống Pháp và chống lại nhà Thanh. Không ngờ Hà Quốc Trường đã sắp sẵn âm mưu phản trắc, một thời gian không lâu sau Vừ Phán Lùng bị giết chết ng